Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về báo chí với việc truyền thông bản sắc văn hóa của đồng bào Khmer Nam bộ. - Chương 2: Thực trạng việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa của đồng bào Khmer Nam bộ trên sóng truyền hình địa phương - Chương 3: Vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá của đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ trên sóng truyền hình địa phương. CƠ SỞ LÝ LUẬN VA THỰC TIEN VE BAO CHI VỚI VIỆC TRUYEN THONG BAN SAC VAN HOA CUA DONG BAO KHMER NAM BO 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1.
Văn hóa Văn hóa: Theo nghĩa rộng, văn hóa thường được xem là bao gồm tất cả những gi do con người sáng tạo ra. Giáo sư Nguyễn Lân định nghĩa “văn hóa” là “toàn bộ những giá trị vật chất và tỉnh thân loài người sáng tạo ra trong quả trình lịch sử và tiêu biểu cho trình độ mà xã hội đã đạt được trong từng giai đoạn về các mặt học vấn, khoa học, kĩ thuật, văn học, nghệ thuật, triết học, đạo đức, sản xuất. Giáo sư Trần Ngọc Thêm (chủ biên) trong cuốn Văn hóa học và văn hóa Việt Nam xuất bản năm 2004, cũng đồng quan điểm khi cho rằng “Van hóa là một hệ thống hữu cơ các gid trị vật chất và tỉnh thần do con người sáng tạo và tích lity qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội ” [40. Cả hai cách định nghĩa này đều khăng định văn hóa là sản phẩm của con người sáng tạo ra.
Ké từ khi xuất hiện đến nay, loài người với sự có mặt và tác động của mình, đã làm cho diện mạo của trái đất và cuộc song con người có nhiều biến đổi sâu sắc, từng bước chuyên từ thời ki hồng hoang lên van minh, hiện đại. Là một bộ phận của giới tự nhiên, nhưng nhờ có tri thức, năng lực và kinh nghiệm tích lũy được trong tiến trình lao động và đấu tranh mà con người đã biết chế ngự giới tự nhiên va cải biến xã hội, đã tạo ra mọi của cải, vật chất và tinh thần, làm giàu cuộc sống của mình và thúc đây xã hội phát triển. Băng hoạt động thực tiễn, con người đã biết “nhào nặn” giới tự nhiên và cải biến xã hội theo nhu cầu cuộc sống và “quy luật của cái đẹp”, đã tạo ra một “thiên nhiên thứ hai theo hình ảnh của mình”. Có thé nói, toàn bộ những sáng tạo đó chính là văn hóa.
Sức mạnh văn hóa đã làm cho con người 15 có thêm kha năng chinh phục thiên nhiên, phục vụ tiến bộ xã hội, hạnh phúc con người, tương lai nhân loại. Hồ Chí Minh đã viết trong bản thảo “Nhật ký trong tù”: Vì lẽ sinh tôn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát mình ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sang tạo và phát minh do tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu câu đời sống và đòi hỏi của sự sinh ton [33, tr.
Có Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đưa ra quan điểm về văn hóa là: Văn hóa là sợ chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử cua dân tộc, nó làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đông dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao sóng gid và thác gênh tưởng chừng không thể vượt qua được, để không ngừng phát triển và lớn mạnh [26]. Rõ rang với hơn 4000 năm dựng nước va g1ữ nước, dân tộc ta đã gặp biết bao kẻ thù xâm lược. Sức mạnh văn hóa đã nhiều lần đánh bại những âm mưu đồng hóa dân tộc ta, dé rồi dân tộc Việt Nam vẫn là một phần của thế giới, hơn nữa dân tộc Việt Nam được biết bao dân tộc trên thế giới nghiêng mình khâm phục. Sức mạnh văn hóa tuy vô hình nhưng giá trị văn hóa mang lại lại là cái hữu hình, chúng ta có thể cảm nhận, nhìn thấy chúng từng ngày, từng giờ trong đời sống.
Federico Mayo - Tổng giám đốc UNESCO đã viết trong tạp chí Người đưa tin UNESCO (số 11 năm 1989), như sau: Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gém tat cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quan, loi sống 16 và lao động. Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp năm 1970 tại Venise [33, tr. Quan niệm của người đứng đầu Tổ chức Văn hóa - Khoa học & Giáo dục của Liên hiệp quốc tương đồng với các nhà văn hóa Việt Nam nêu trên, tức cũng bao gồm ca vật chat và tinh thần do con người tạo nên, có sự chat lọc qua thời gian, dần trở thành nét đặc trưng của mỗi tộc người, dân tộc, quốc gia. Xuất phát từ quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá và căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hoá của nước ta hiện nay, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về “Xây đựng và phát triển nên văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” khi đề cập đến phạm vi của văn hoá đã cụ thể thành 8 lĩnh vực lớn, đó là: Tư tưởng, đạo đức, lối sống; di sản văn hoa; giáo dục và dao tạo; khoa học và công nghệ; văn học, nghệ thuật; thông tin đại chúng; giao lưu văn hoá với thế giới; thể chế và thiết chế văn hoá.
Đảng ta, ngay từ khi ra đời đã ý thức rõ về vai trò và sức mạnh to lớn của văn hóa, đã coi văn hóa là một trong những mục tiêu và động lực cơ bản của cách mạng Việt Nam. Với cách hiểu rộng này, văn hóa đã trở thành đối tượng của văn hóa học - khoa học nghiên cứu về văn hóa. Trong lĩnh vực này, khởi đầu từ định nghĩa của E. Tylor trong cuốn Văn hóa nguyên thủy (Primitive culture) xuất bản ở London (Anh), năm 1871, đến nay đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau.
Có bao nhiêu nhà nghiên cứu văn hóa thì có bấy nhiêu định nghĩa về văn hóa. Song, dù sỐ lượng định nghĩa văn hóa có nhiều bao nhiêu đi nữa, hàng trăm, hay hàng ngàn, chung quy lại, chúng vẫn chỉ xoay quanh một số khuynh hướng cơ bản. Bản sắc văn hóa Theo nghĩa ban đầu, “bản của một sự vật” là cái gốc, cái căn bản, cái cốt lõi, cái hạt nhân, của sự vật; còn “sắc của một sự vat” là cái biểu hiện ra bên ngoài của sự vật đó. Một số tác giả cho rằng, bản sắc là màu sắc, tính chất riêng tạo thành đặc điểm chính của đối tượng, sự vật hoặc là tính chất đặc biệt vốn có tạo thành phẩm cách riêng của đối tượng, sự vật ay.
Nhu vay, theo cac y kién nay, ban sắc của một su vật là những đặc điểm riêng biệt chỉ có ở đối tượng, sự vật ay. Mỗi su vật có nhiều đặc điểm, trong đó có những đặc điểm chung và những đặc điểm riêng, những đặc điểm cơ bản và những đặc điểm không cơ bản. Những đặc điểm cơ bản của một sự vật chính là bản sắc của sự vật ay. Nói đến bản sắc của mỗi sự vat trước hết là nói đến đặc điểm riêng của sự vật ay, song đặc điểm riêng gan bó chặt chẽ với đặc điểm chung.
Do đó, “Bản sắc của một đối tượng, sự vật nào đó can được hiểu là tập hợp những đặc điềm cơ bản của sự vật ấy mà qua đó ta biết được sự giống nhau và khác nhau giữa sự vật ấy với các sự vật khác trong thế giớ?” [23, tr. Còn tác giả Hoàng Xuân Lương lại đưa ra định nghĩa “Bản sắc văn hóa dân tộc là những giá trị vật chất, tinh than cô đọng nhất, bên vững nhất, tinh túy nhất, la sắc thái gốc, riêng biệt của mỗi dân tộc, làm cho dân tộc này không thé lẫn với dân tộc khác” [29, tr. Ban sắc văn hóa dân tộc không phải là cái gì quá trừu tượng, khó thấy. Bản sắc văn hóa dân tộc được thể hiện ra trong đời sống hằng ngày của cộng đồng dân tộc.
Qua những “bản sắc văn hóa dân tộc”, chúng ta có thể nhận diện được cộng đồng dân tộc nay với cộng đồng dân tộc khác. Tuy nhiên, không dé dang để kể ra đầy đủ mọi đặc điểm của ban sắc văn hóa của một dân tộc; do vậy khó có thé quy bản sắc văn hóa của một dân tộc nao đó vào “một cái gì đó”. Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam “Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam bao gồm những giá trị bên vững, những tinh hoa của cộng đồng 18 các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nong nàn, ý chi tự cường dân tộc, tinh than đoàn kết, ý thức cộng đông gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tinh can cù, sáng tạo trong lao động; sự tỉnh tế trong ứng xử, tinh giản dị trong lôi song.
Ban sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc dao. Di sản văn hóa dán tộc là tài sản vô giá, gắn kết công đông dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở dé sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa” [16, tr. Bản sắc dân tộc cũng có thé được hiểu là ban sắc văn hóa dân tộc nếu văn hóa được hiểu theo nghĩa là: “Ở đâu có con người là ở đó có văn hóa, ở đâu có hoạt động của con người là có nhân to văn hóa hiện đại, biểu hiện hoặc ẩn tàng bản sắc dân toc” [Š1, tr. Từ cách tiếp cận trên cho thấy, bản sắc văn hóa của một dân tộc bao gồm những đặc điểm cơ bản của dân tộc ấy, qua đó chúng ta có thé biết được dân tộc đó giống và khác thế nào với các dân tộc khác trong một thế giới đa dân tộc.