Chương 1. Tổng quan tài liệu 1. Tình hình sản xuất hoa lily 1. Tình hình sản xuất hoa lily trên thế giới Hoa lily là một trong những loại hoa được ưa chuộng nhất thế giới và là một trong 6 loại hoa phổ biến và có giá trị nhất: hồng, cúc, phăng, lay ơn, đồng tiền, lily.
Tình hình sản xuất hoa lily ở một số nước trên thế giới (ha) STT Nước Năm 1989-1990 Năm 1997-1998 Năm 1999-2001 1 Hà Lan 1200 4000 5000 2 Pháp 30 150 430 3 Canada và Mỹ 200 215 235 4 Nhật 370 350 360 5 Úc 50 350 400 6 Chi Lê 8 45 135 7 Hàn Quốc 121 209 250 (Nguồn: Đặng Văn Đông, 2005) Hà Lan là nước đứng đầu trong các nước sản xuất hoa lily về cả củ giống và hoa lily thương phẩm. Lily là loài hoa đứng thứ 5 trong các loài hoa quan trọng của Hà Lan. Trong những năn gần đây diện tích trồng hoa lily ở Hà Lan tăng lên nhanh chóng từ 1200ha năm 1990 lên 5000ha năm 2001. Phần lớn lily được lai giống và sản xuất ở Hà Lan [2].
Trung Quốc là nước trồng hoa lily sớm nhất, những nghiên cứu thấy rằng từ đời Đường người ta đã trồng lily để lấy củ ăn như một món ăn sang trọng có lợi cho sức khỏe. Hiện nay Trung Quốc có 48 loài 16 biến chủng lily, chiếm khoảng 50% tổng số loài trên thế giới [2]. Theo Yang Xiaohan, 1996 Lily được phân bố ở khắp các vùng đặc biệt là ở Sichuan, Yunnan, Xizang và Gansu; các giống trồng chính là Navona, Acapulco, Elife, Lorian, Solemio, Pollyanna, Adelina, Akita, Her Grace, Jessica, Maremma, Amanda, Ankra, Apropas, Merostar, Wisdom, Snow Queen và White Statin. Nhật Bản là nước có truyền thống dùng hoa cắm và cũng là một trong những nước tiêu thụ và nhập khẩu hoa lớn nhất châu Á, mỗi năm nhập khẩu hoa giá trị 3 khoảng 500 triệu USD.
Hoa lily đứng vị trí thứ tư trong các loài hoa ở Nhật. Hiện nay diện tích trồng hoa lily ở Nhật Bản khoảng 550ha [1]. Những năm gần đây, Hàn Quốc là một nước phát triển nghề trồng hoa mạnh, xuất khẩu hoa lớn nhất khu vực Đông Bắc Á. Diện tích trồng hoa của Hàn Quốc vào khoảng 15.000 ha, giá trị sản lượng đạt 700 triệu USD, gấp 8 lần năm 1989.
Lily là cây đứng thứ tư trong các loại hoa cắt ở Hàn Quốc [1], năm 2003 Hàn Quốc xuất khẩu hoa lily sang Nhật giá trị khoảng 10 triệu USD, nhập khẩu giống từ Hà Lan khoảng 4 triệu USD [2]. Diện tích trồng lily tăng, năm 1985: 32ha, năm 1992: 223ha, trong đó giống Lilium longiflorum chiếm 55%; lai châu Á và phương Đông chiếm 37% còn lại 8% là các nhóm khác. Năm 2009, diện tích sản xuất hoa lily là 242ha, với sản lượng hoa là 46 triệu cành. Hơn 25% trong số này (12 triệu cành) được xuất khẩu sang Nhật Bản.
Các giống trồng phổ biến ở Hàn Quốc bao gồm giống lai Asiatic, Orientals và Longiflorum. Công nghệ sản xuất hoa lily ở Đài Loan rất tiên tiến, năm 2001 nước này có đến 490 ha trồng hoa lily, trong đó xuất khẩu đạt 7,4 triệu USD. Ước tính năm 2000 - 2001, số lượng hoa lily được trồng ở Hoa Kỳ sẽ là 8906000 chậu. Năm 2004, lily là một trong 5 loại hoa chậu có giá trị kinh tế nhất ở Hoa Kỳ với số lượng đưa ra ngoài sản xuất là 9,3 triệu chậu và giá trị bán buôn khoảng 38,5 triệu đô la Mỹ [6].
Ở châu Phi nước xuất khẩu hoa lớn nhất là Kenia, hiện nay nước này có 3 vạn nông trường với 2 triệu người trồng hoa, chủ yếu là hoa phăng, lily và hoa hồng. Mỗi năm xuất khẩu sang châu Âu 65 triệu USD, trong đó hoa lily chiếm 35%. Ngoài các nước kể trên còn có nhiều nước trồng hoa lily lớn khác như Ý, Đức, Mêhicô, Côlômbia, Israel… 1. Tình hình sản xuất và nghiên cứu hoa lily ở Việt Nam Lily là một trong các loại hoa có giá trị kinh tế cao.
Tuy nhiên hiện nay nước ta vẫn chưa chủ động sản xuất được củ giống, hầu hết các giống lily trồng ở Việt Nam chủ yếu được nhập từ Hà Lan, Đài Loan hoặc Trung Quốc. Nghiên cứu về hoa lily tập trung ở một số hướng: khảo nghiệm để lựa chọn được những giống nhập nội phù hợp với điều kiện sinh thái từng vùng; nghiên cứu sản xuất củ giống bằng kỹ thuật in vitro, nuôi cấy bioreactor…, nghiên cứu kỹ thuật trồng, chăm sóc hoa lily cũng được quan tâm. 4 Kết quả nghiên cứu của tác giả Đặng Văn Đông từ năm 2002 đến năm 2004 đã xác định được 3 giống lily: Tiber, Siberia và Acapulo có khả năng trồng phù hợp ở khu vực phía Bắc; kết quả khảo nghiệm tại các tỉnh Lạng Sơn, Sơn La, Phú Thọ, Yên Bái, Thái Nguyên… đã khẳng định được 2 giống Tiber và Sorbonne sinh trưởng, phát triển tốt tại địa phương [2]. Nghiên cứu sản xuất giống lily ở Việt Nam cũng đem lại một số kết quả nhất định như: Nghiên cứu phương pháp tạo củ in vitro trên một số giống hoa lily nhập nội (Nguyễn Thái Hà và CS, 2003).
Nghiên cứu khả năng tạo củ của lily bằng cách tạo củ sơ cấp lily trong ống nghiệm (Hà Thị Thúy và CS, 2005). Nghiên cứu nhân giống củ lily bằng kỹ thuật in vitro nuôi cấy trong môi trường cơ bản (MS) có bổ sung 12% đường sacaroza, nhiệt độ phòng 25 - 270C, độ ẩm 70%, cường độ chiếu sáng 3000lux do tác giả Nguyễn Thị Lý Anh thực hiện tại Viện Sinh học Nông nghiệp - trường Đại học Nông nghiệp I, năm 2005. Kết quả cho thấy các cây trồng từ củ in vitro có khối lượng trên 1g/củ và được xử lý ở nhiệt độ 50C trong 3 tháng sinh trưởng, phát triển tốt và có chất lượng củ thu hoạch cao. Nghiên cứu về một số giải pháp kỹ thuật: sử dụng chất kích thích sinh trưởng, bón phân qua lá, che bóng cho cây… thực hiện ở Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Kạn… đã xác định được một số chất kích thích sinh trưởng: GA3 có tác dụng làm tăng chất lượng hoa (Đỗ Tuấn Khiêm, 2007), chế phẩm kích thích sinh trưởng Atonik có tác dụng tốt đến sinh trưởng và chất lượng hoa (Phạm Thị Mai Chinh, 2007), giống hoa lily sorbonne thể hiện tính ưu việt về sinh trưởng, phát triển và chất lượng tại Ba Bể - Bắc Kạn (Nguyễn Văn Tấp, 2009) [2].
Theo Đặng Văn Đông - Đinh Thế Lộc (2003) [4], Đà Lạt là nơi hiện đang có diện tích trồng lily nhiều nhất so với các địa phương khác trên cả nước chiếm khoảng 8% trong tổng diện tích trồng hoa, còn ở Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn, Sơn La, Bắc Kạn,…tiến hành sản xuất một số giống lily thương mại: Tiber, Sorbonne, Siberia, Acapulco, Yelloween, Stargazer nhưng ở quy mô thử nghiệm nhỏ chưa đưa ra sản xuất đại trà. Theo số liệu thống kê của nhóm nghiên cứu bộ môn sinh lý, sinh hóa trường đại học Nông nghiệp Hà Nội, năm 2004, diện tích trồng hoa lily chỉ khoảng 100ha, tập trung chủ yếu ở Đà Lạt, Hà Nội, Nam Định, Thái Bình và một số tỉnh khác. Tình hình phát triển hoa lily ở Đà Lạt khá thuận lợi, một phần do thiên nhiên ưu đãi cho sự phát triển của các giống hoa nói chung và cho hoa lily nói 5 riêng, hơn nữa do kỹ thuật trồng hoa ở Đà Lạt tương đối cao hơn những vùng khác nên hoa sinh trưởng phát triển khá tốt, chất lượng hoa đồng đều. Theo kết quả thu thập của Viện Nghiên cứu rau quả, hiệu quả kinh tế trực tiếp đem lại cho các hộ nông dân, doanh nghiệp từ trồng lily là rất cao.
Lãi thuần thu được từ trồng lily trung bình đạt khoảng 250 triệu/1.000 m2/năm, như vậy chỉ tính trong năm 2009, người dân và doanh nghiệp ở miền Bắc đã thu lãi được từ trồng hoa lily (chủ yếu là giống Sorbonne) khoảng 20 tỷ đồng. Từ chỗ ở miền Bắc năm 2002 trở về trước chưa trồng được hoa lily, phải nhập hoàn toàn từ Trung Quốc hoặc lấy từ Đà Lạt, đến nay đã tự sản xuất và cung cấp được số lớn hoa lily cho nhu cầu thị trường, bên cạnh đó có thời điểm hoa lily trồng tại miền Bắc còn xuất khẩu sang Trung Quốc. Nhìn chung, ở nước ta còn gặp rất nhiều khó khăn trong công tác trồng hoa lily như điều kiện thời tiết khí hậu không thuận lợi, diện tích đất trồng còn nhỏ lẻ, kỹ thuật và kinh nghiệm trồng chưa cao, chưa chủ động được nguồn giống,… Do đó năng suất và chất lượng hoa không cao, giá thành của hoa khá cao, nhất là trong các dịp lễ, tết. Tình hình sản xuất hoa lily ở Quảng Nam Hoa lily được nhập vào Quảng Nam từ năm 2005 ở một số địa phương như Hội An, Tam Kỳ, Duy Xuyên, Núi Thành, Thăng Bình… bước đầu đã tạo ra những làng nghề trồng hoa mới, tăng thu nhập cho người sản xuất, phát triển kinh tế địa phương.
Mô hình trồng hoa lily ở Tam Kỳ không chiếm nhiều diện tích đất sản xuất nhưng vẫn mang lại hiệu quả kinh tế cao. Năm nay đã là mùa thứ bảy giống hoa lily được các nhà vườn ở Tam Kỳ mạnh dạn áp dụng những kỹ thuật trồng trọt hiện đại, hứa hẹn tiếp tục có vụ mùa thu hoạch đạt lời nhuận kinh tế cao. Tại phường Trường Xuân, An Sơn, Hòa Hương và xã Tam Ngọc các hộ dân đã thực hiện mô hình trồng hoa lily trong chậu với quy mô nhỏ. Như anh Thái Văn Trưởng (khối phố 6, phường Trường Xuân) năm nay anh trồng 16.000 củ lily, theo dự tính đến cuối tháng Chạp lily sẽ ra hoa, mỗi chậu cho 5 - 7 cành, dự báo thị trường có giá khoảng 200 nghìn đồng/chậu; mô hình trồng lily của anh Cao Quang Nhân (phường An Sơn) năm ngoái anh chỉ trồng 500 củ, nhưng nhận thấy nhu cầu chơi hoa lily ngày Tết của người dân ngày càng nhiều nên năm nay quyết tăng lên gấp đôi [8].
Nhìn chung, về quy mô: các cơ sở sản xuất hoa có quy mô hộ gia đình nhỏ lẻ, sản xuất đơn lẻ. Về kỹ thuật: lạc hậu, dựa vào kinh nghiệm là chính, đầu tư kỹ thuật 6 khoa học còn thấp chủ yếu là sản xuất ngoài tự nhiên chính vì vậy dù nghề trồng hoa cho thu nhập cao nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên. Chưa có chỉ đạo thống nhất, sản xuất thiếu tính đồng bộ và chưa nhận được nhiều sự quan tâm từ chính quyền địa phương. Nguồn gốc và phân loại 1.
Nguồn gốc Hiện nay trên thế giới có khoảng trên 80 loài Lily khác nhau, nó có nguồn gốc ở vùng Himalaya và được mở rộng tới các vùng núi ở Bắc bán cầu, phân bố từ 100 đến 600 vĩ Bắc. Phần lớn các giống hoa Lily thương mại như: lai châu Á, lai Phương Đông.