phần mở đầu của phát ngôn, được đánh dấu bởi vị trí đầu câu, tương đương với vị trí thông thường của chủ ngữ. Chính vị trí này đã góp phần làm cho cấu trúc đề - thuyết có thể được nhận vai trò cấu trúc cú pháp của câu trong một số ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ không biến hình. Khác với quan niệm của một số nhà Việt ngữ coi cấu trúc đề - thuyết là cấu trúc cú pháp, Halliday [63], [64] quan niệm đề và thuyết là các thành phần của một cú với tư cách là một thông điệp. Tuy nhiên Halliday cũng lưu ý rằng khi coi đề là điểm khởi đầu của thông điệp mà người nói lựa chọn, ta không thể được phép nhầm lẫn với thông tin cũ, thông tin mà người nói cho là người nghe đã biết và cấu trúc đề - thuyết không thể nhầm lẫn với cấu trúc thông tin cũ - mới mà chúng tôi sẽ trình bày sau đây.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Cấu trúc thông tin cũ - mới: Theo Halliday cấu trúc đề - thuyết là sự lựa chọn theo người nói và cấu trúc thông tin cũ - mới là sự lựa chọn để phù hợp với người nghe. Có thể có những trường hợp hai sự phân chia này trùng nhau bởi vì thông thường thông tin mà người nói chọn để khởi đầu là thông tin cũ - thông tin mà người nghe đã biết – như trong ví dụ sau: (11) A: Cậu có thích ăn kem không? (12) B: Kem thì lúc nào mình cũng thích. Thông tin về “kem” trong câu trả lời là thông tin đã được nhắc đến trong câu hỏi - tức là thông tin cũ - và cũng là thông tin mà người nói chọn làm điểm khởi đầu cho câu trả lời của mình, tuy rằng người nói cũng có thể chọn lựa một cách trả lời khác: (13) A: Mình thì lúc nào cũng thích ăn kem.
(14) B: Lúc nào mình cũng thích ăn kem. Trong (12) người nói chọn cá nhân mình làm điểm xuất phát, và trong (13)thì người nói muốn chọn điểm xuất phát chính là thông tin mà người nghe chưa biết, nhằm nhấn mạnh phần đề, cũng chính là phần thông tin mới. Như vậy, trong (13) đề và thông tin cũ không trùng nhau. Cũng theo Halliday, có những trường hợp câu không có thông tin cũ nhưng bất kỳ phát ngôn nào cũng có điểm xuất phát, hay nói cách khác, câu luôn có đề.
Đây là kiểu câu mà truyền thống gọi là “câu tồn tại”, mà chức năng là giới thiệu một thực thể xuất hiện lần đầu trong diễn ngôn, ví dụ: (14) Ngày xửa ngày xưa, ở một làng nọ có một gia đình nghèo…. Trong ví dụ trên, câu chứa toàn thông tin mới với điểm xuất phát là “ngày xửa ngày xưa, ở một làng nọ” và từ điểm xuất phát đó, giới thiệu sự tồn tại của một gia đình nghèo. Cách phân chia cấu trúc thông tin cũ - mới là cách phân chia theo trường phái Praha. Cách phân chia này phải được xét đến mối quan hệ với bối cảnh và người sử dụng.
Tuy nhiên, nói về thông tin cũ và thông tin mới, quan điểm của học giả khác nhau về nhận thức thế nào là mới, thế nào là cũ vẫn có chỗ khác nhau. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Halliday [63] mô tả thông tin cũ như là phần thông tin được người nói cho là có thể phục hồi được từ văn bản hay ngữ cảnh và một thông tin được gọi là mới thì là không phải vì nó không thể được đề cập đến trước đó, mặc dù thông thường thì nó chưa được đề cập đến, mà vì người nói trình bày nó như là không thể phục hồi được từ phần văn bản đi trước. Ủng hộ ý kiến này, Chafe [46] cho rằng vị thế cũ phải được giới hạn trong phạm vi kiến thức mà người nói cho là ở trong trạng thái nhận thức của người nghe tại thời điểm phát ngôn, ví dụ: (15) A: Anh gặp ai ngày hôm qua? B: Tôi gặp em gái anh ngày hôm qua. Theo quan điểm của Chafe và Halliday, có thể được xem là thông tin mới nếu người nói cho rằng em gái của người nghe không ở trong trạng thái nhận thức của người nghe vào thời điểm phát ngôn.
Mối quan hệ giữa tính chất thông tin cũ hay mới đối với người nghe hay đối với văn bản có thể được trình bày như sau: (i) Cũ với người nghe và cũ với văn bản: Đó là thông tin đã được gợi lên trong văn bản hiện dùng và do đó người nói tin là người nghe đã biết. (ii) Cũ với người nghe, nhưng mới với văn bản: Đó là thông tin chưa được gợi lên trong văn bản hiện dùng, nhưng người nói tin là người nghe đã biết. (iii) Mới với người nghe và mới với văn bản: Đó là thông tin chưa được gợi lên trong bản hiện dùng, và người nói tin là người nghe đã biết. (iv) Mới với người nghe và cũ với văn bản: Về mặt lý thuyết, đó là thông tin đã được gợi lên trong văn bản hiện dùng, nhưng người nói tin là người nghe chưa biết.
Tuy nhiên, (Prince 1981,tr.43), loại thông tin này không thể xuất hiện trong văn bản tự nhiên được. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khái niệm cũ / mới được Gundel [61] xác định theo hai lĩnh vực khác nhau: một thuộc lĩnh vực ngữ pháp và một thuộc lĩnh vực ngữ dụng và ngữ nghĩa tri nhận. Về mặt ngữ pháp, khái niệm cũ / mới gắn liền với tính quy chiếu trong ngôn bản hay trong suy nghĩ của người nói / người nghe. Về ngữ dụng, khái niệm cũ / mới gắn liền với tính quan hệ, theo đó ví dụ như khi có hai phần X và Y, thì X được cho là cũ, trong mối quan hệ với Y và Y được cho là mới trong mối quan hệ với X.
Với quan niệm này thì “she” trong ví dụ dưới đây được coi là cũ vì đã có quy chiếu trong văn bản nhưng là mới trong mối quan hệ với thông tin về “called”. (16) Who called? (Ai gọi thế ?) Pat said she called.1] Tóm lại, các nhà ngôn ngữ học đã có những cách tiếp cận khác nhau về sự phân đoạn thông tin cũ / mới: Thông tin cũ chúng tôi dùng trong luận văn này sẽ được hiểu theo nghĩa là thông tin cũ với người nghe và với văn bản (trường hợp (i) của Prince) và thông tin mới được hiểu là phần thông tin chưa được “gợi lên” trong văn bản (như của Halliday) hay có thể có quy chiếu trong văn bản nhưng không thể suy diễn được vì nó là phần thông tin mới trong mối quan hệ với thông tin cũ (như cách hiểu của Gundel). Do đó, theo chúng tôi, tính xác định của biểu thức không đi đôi với khái niệm cũ / mới về mặt thông tin. Để đạt được mục đích giao tiếp, phát ngôn thông thường phải chứa đựng thông tin mới.
Có những phát ngôn chỉ chứa thông tin mới mà không có thông tin cũ. Ví dụ: khi trả lời cho câu hỏi: “Có chuyện gì vậy?” câu trả lời: “Có hai thằng bé đánh nhau!” chỉ chứa đựng thông tin mới. Cấu trúc thông tin của một phát ngôn theo mô hình cũ - mới được coi là cấu trúc thông tin dưới góc độ dụng học vì nó cho biết thông tin về mối quan hệ của người nói và người nghe. Người nói phải tính đến người nghe trong một hoàn cảnh nào đó đã biết gì và muốn biết gì.
Ngoài các quan niệm về cấu trúc thông tin phân chia thành cấu trúc đề - thuyết hay thông tin cũ và thông tin mới, một phát ngôn còn cho biết về đối tượng của 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thông báo và thông báo về đối tượng đó. Thông tin nêu ra trong trường hợp này là thông tin chủ đề và cũng sẽ là trọng tâm của luận văn chúng tôi về các phương tiện nhấn mạnh về mặt thông tin. Thông tin chủ đề Theo Dik [49, tr.92], thành tố có chức năng là chủ đề (topic) chỉ một thực thể mà người nói cho là người nghe đã biết, và là cái mà phần vị ngữ xác nhận về nó. Quan điểm về chủ đề cũng được Lambrecht [73, tr.131] tán thành khi ông cho rằng cái được gọi là chủ đề (topic) của một mệnh đề (proposition) là “cái” mà khi trong một tình huống đã cho mệnh đề đó được giải thích là nói về sở chỉ đó tức là mệnh đề đó diễn đạt thông tin thỏa đáng để tăng kiến thức của người nghe về sở chỉ này.
Ví dụ hai câu sau: (17a) Nhà gần hồ. (17b) Hồ gần nhà. Trong (17a), người nói / viết chọn “nhà” làm chủ đề và cung cấp thông tin về nó. Vậy, hai câu tuy có cùng một nội dung mệnh đề nhưng khác nhau về thông tin chủ đề, vì hai câu chọn lựa hai đối tượng thông báo khác nhau.
Theo định nghĩa của Lambrecht thì chủ đề là sở chỉ đã được đề cập đến mà người nói sẽ làm sáng tỏ thêm ở trong mệnh đề. Theo định nghĩa trên, thì đề (theme) và chủ đề (topic) rất có khả năng trùng nhau bởi vì khi chủ đề - cái đã được đề cập đến - nay lại được nhắc lại với những thông tin thỏa đáng thì thông thường được đặt ở vị trí đầu câu, và đó cũng là vị trí mà người nói lựa chọn để khởi đầu cho phát ngôn của mình. Dik [49] đưa ra một cách phân biệt về mặt hình thức giữa đề (theme) và chủ đề (topic): đó là đề (theme) thì phải tách ra về mặt cấu trúc với cú, còn chủ đề (topic) thì nhất thiết phải là một thành phần trong cấu trúc. Ông cũng chỉ ra rằng đề (theme) và chủ đề (topic) có thể khác biệt nhau trong cùng một câu như ví dụ ông dẫn ra: 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com (18) As for Paris, the Eiffel Tower is really spectacular.
(Nói đến Paris thì phải nói tháp Eiffel thực sự ngoạn mục.) Trong ví dụ trên, theo Dik, “Paris” là đề (theme) và “the Eiffel Tower” là chủ đề (topic). Tuy nhiên ở đây chúng tôi nhận thấy rằng “the Eiffel Tower” chỉ có thể được coi là chủ đề khi trả lời cho câu hỏi: “The Eiffel is considered one of the seven wonders of the world, how is it regarded in Paris?” (Tháp Eiffe được coi là một trong bảy kỳ quan của thế giới, nó có giá trị thế nào ở Paris?) chứ không trả lời cho câu hỏi: “What is the most distinguished in Paris?” (Biểu tượng gì gây ấn tượng nhất ở Paris?) Một ví dụ khác mà Dik dẫn ra sự khác biệt giữa đề và chủ đề: (19) That man, I hate him.