Luận án TS: Triết lý nhân sinh của cư dân Đồng Bằng Bắc Bộ trong truyện cổ tích

Khám phá triết lý nhân sinh của cư dân Đồng Bằng Bắc Bộ được thể hiện sâu sắc qua kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Luận án tiến sĩ chuyên sâu.

Chuyên ngành

Triết Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2020

175
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Khám phá triết lý nhân sinh trong cổ tích Đồng Bằng Bắc Bộ

Truyện cổ tích Đồng Bằng Bắc Bộ không chỉ là những câu chuyện giải trí mà còn là kho tàng chứa đựng triết lý nhân sinh sâu sắc của người Việt cổ. Những câu chuyện này, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, phản ánh một cách chân thực quan niệm sống của người Việt cổ, từ mối quan hệ với tự nhiên, gia đình, xã hội cho đến những chiêm nghiệm về bản thân. Việc tìm hiểu triết lý nhân sinh trong truyện cổ tích Đồng Bằng Bắc Bộ là con đường khám phá cội nguồn tư tưởng, hiểu rõ hơn về văn hóa làng xã Bắc Bộ và những giá trị đạo đức đã định hình nên bản sắc dân tộc. Các câu chuyện này không chỉ đơn thuần là văn học, mà còn là những bài học kinh nghiệm được đúc kết từ thực tiễn lao động và đấu tranh, trở thành kim chỉ nam cho nhiều thế hệ.

1.1. Nguồn gốc hình thành từ thế giới quan nông nghiệp

Cơ sở hình thành triết lý nhân sinh của cư dân Đồng Bằng Bắc Bộ bắt nguồn sâu sắc từ điều kiện địa lý, tự nhiên và kinh tế - xã hội. Luận án của Nguyễn Thị Ngọc (2020) chỉ rõ, đời sống gắn liền với nền văn minh lúa nước đã tạo nên một thế giới quan nông nghiệp đặc thù. Con người luôn phải đối mặt với thiên tai, địch họa, từ đó hình thành nên triết lý sống hài hòa nhưng cũng đầy nỗ lực chinh phục tự nhiên. Chính văn hóa làng xã Bắc Bộ, với tính cộng đồng và tự trị cao, đã trở thành cái nôi nuôi dưỡng những quan niệm về gia đình, xã hội. Các phong tục tập quán người Việt như thờ cúng tổ tiên, coi trọng tình nghĩa làng xóm... đều được phản ánh đậm nét, tạo nên chiều sâu cho các câu chuyện. Những yếu tố này là mảnh đất màu mỡ để những tư tưởng về lẽ sống, đạo đức và công lý nảy mầm và phát triển.

1.2. Đặc trưng truyện cổ tích Việt Nam và vai trò phản ánh

Một trong những đặc trưng truyện cổ tích Việt Nam là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố hiện thực và yếu tố thần kỳ. Theo nghiên cứu của Nguyễn Đổng Chi, các yếu tố thần kỳ như ông Bụt, bà Tiên không chỉ làm câu chuyện thêm hấp dẫn mà còn là hiện thân cho ước mơ công lý của nhân dân. Chúng là công cụ để người xưa lý giải những vấn đề vượt ngoài tầm hiểu biết và thể hiện khát vọng về một xã hội công bằng. Các hình tượng nhân vật trong cổ tích thường được xây dựng theo hai tuyến rõ rệt: thiện và ác. Nhân vật chính diện đại diện cho tầng lớp lao động nghèo khổ, hiền lành, trong khi nhân vật phản diện là hiện thân của giai cấp thống trị tham lam, độc ác. Qua đó, truyện cổ tích trở thành tấm gương phản chiếu chân thực những xung đột xã hội, đồng thời là tiếng nói bênh vực những người yếu thế.

II. Giải mã 3 mối quan hệ cốt lõi trong triết lý nhân sinh

Nhân sinh quan trong văn học dân gian được thể hiện rõ nét qua cách người xưa nhìn nhận các mối quan hệ nền tảng của cuộc sống. Truyện cổ tích Đồng Bằng Bắc Bộ đã xây dựng một hệ thống triết lý hoàn chỉnh về cách con người ứng xử với thế giới xung quanh và với chính bản thân mình. Phân tích các mối quan hệ này giúp làm sáng tỏ quan niệm sống của người Việt cổ và những giá trị cốt lõi mà họ theo đuổi. Các mối quan hệ này bao gồm: quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người với xã hội (gia đình, cộng đồng), và cuối cùng là con người với chính bản thân. Mỗi mối quan hệ lại mở ra những bài học cuộc sống trong truyện cổ tích vô cùng giá trị và sâu sắc, phản ánh tư duy biện chứng, linh hoạt của người nông dân Bắc Bộ.

2.1. Quan niệm về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên

Triết lý về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong truyện cổ tích thể hiện hai mặt: vừa tôn trọng, hòa hợp, vừa có ý thức cải tạo, chinh phục. Sống trong một môi trường nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào thời tiết, người Việt cổ nhận thức rõ sức mạnh của tự nhiên. Nhiều câu chuyện thể hiện sự biết ơn, sùng bái các lực lượng tự nhiên qua hình tượng các vị thần Sông, thần Núi. Tuy nhiên, họ không hoàn toàn thụ động. Các câu chuyện như Sơn Tinh, Thủy Tinh cho thấy một tinh thần chủ động, kiên cường chống lại thiên tai. Luận án của Nguyễn Thị Ngọc nhấn mạnh: “Thông qua truyện cổ tích, cư dân đồng bằng Bắc bộ đã gửi gắm những ước mơ, khát vọng, kinh nghiệm sống quý báu cho các thế hệ sau”. Điều này thể hiện một thế giới quan nông nghiệp vừa thực tế vừa lãng mạn, luôn tìm cách vươn lên làm chủ hoàn cảnh.

2.2. Triết lý về mối quan hệ giữa con người với xã hội

Mối quan hệ xã hội là trung tâm của triết lý nhân sinh trong truyện cổ tích. Trong phạm vi gia đình, các giá trị về lòng hiếu thảo, tình nghĩa vợ chồng son sắt, tình anh em keo sơn được đề cao (truyện Sự tích trầu cau). Đồng thời, truyện cổ tích cũng phản ánh gay gắt những xung đột gia đình như mâu thuẫn mẹ ghẻ - con chồng (Tấm Cám), anh em bất hòa (Cây Khế). Ngoài xã hội, ước mơ công lý được thể hiện qua cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa người nghèo và kẻ giàu, giữa tầng lớp bị trị và giai cấp thống trị. Hình tượng nhân vật trong cổ tích như Thạch Sanh, anh Khoai là đại diện cho sức mạnh và phẩm chất của nhân dân lao động. Những câu chuyện này khẳng định một chân lý: chính nghĩa cuối cùng sẽ chiến thắng gian tà, thể hiện sâu sắc giá trị đạo đức truyện dân gian.

2.3. Chiêm nghiệm về mối quan hệ của con người với bản thân

Truyện cổ tích không chỉ hướng ngoại mà còn đi sâu vào thế giới nội tâm, vào hành trình nhận thức và hoàn thiện bản thân của con người. Các nhân vật chính thường phải trải qua vô vàn thử thách, gian khổ. Quá trình này không chỉ là đấu tranh với kẻ thù bên ngoài mà còn là cuộc đấu tranh để giữ vững phẩm chất, niềm tin và lòng tốt của chính mình. Cô Tấm dù bị hãm hại nhiều lần vẫn kiên cường hóa kiếp để giành lại hạnh phúc. Thạch Sanh dù bị lừa gạt vẫn giữ tấm lòng nhân hậu. Đây chính là bài học cuộc sống trong truyện cổ tích về sự tự nhận thức, về giá trị của sự kiên trì và lòng vị tha. Triết lý này khẳng định rằng, giá trị đích thực của con người nằm ở phẩm giá và nhân cách, chứ không phải ở địa vị hay của cải vật chất.

III. Phương pháp giáo dục đạo đức qua quy luật Ở hiền gặp lành

Cốt lõi của triết lý nhân sinh trong truyện cổ tích Đồng Bằng Bắc Bộ chính là hệ thống giá trị đạo đức truyện dân gian được truyền tải một cách giản dị mà thấm thía. Thay vì những giáo điều khô cứng, người xưa đã sử dụng những câu chuyện hấp dẫn với các môtíp quen thuộc để giáo dục đạo đức qua truyện cổ tích. Trung tâm của hệ thống này là quy luật nhân quả, một tư tưởng chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Phật giáo nhưng đã được dân gian hóa để phù hợp với tâm thức người Việt. Quy luật này vận hành một cách tuyệt đối trong thế giới cổ tích, tạo nên một trật tự đạo đức rõ ràng, nơi cái thiện luôn được tưởng thưởng và cái ác phải bị trừng phạt, củng cố niềm tin của con người vào công lý.

3.1. Triết lý Ở hiền gặp lành và niềm tin vào chính nghĩa

Triết lý “ở hiền gặp lành” là sợi chỉ đỏ xuyên suốt kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Các nhân vật hiền lành, tốt bụng, chăm chỉ như cô Tấm, Thạch Sanh, anh Khoai... dù ban đầu phải chịu nhiều bất công, đau khổ nhưng cuối cùng đều nhận được sự giúp đỡ của các lực lượng thần kỳ và có được hạnh phúc viên mãn. Sự tưởng thưởng này không chỉ là vật chất (kết hôn với công chúa, lên ngôi vua) mà còn là sự công nhận về mặt phẩm giá. Niềm tin vào “ở hiền gặp lành” chính là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn, giúp người lao động vượt qua những khó khăn, bất công trong cuộc sống thực tại. Nó thể hiện một tinh thần lạc quan, một ước mơ công lý cháy bỏng và một khát vọng về một xã hội mà lòng tốt luôn được đền đáp xứng đáng.

3.2. Quy luật Ác giả ác báo và sự trừng phạt đích đáng

Song hành với “ở hiền gặp lành” là quy luật “ác giả ác báo”. Các nhân vật phản diện như Lý Thông, mẹ con Cám, lão phú ông... đều phải nhận lấy kết cục bi thảm, tương xứng với những tội ác mà chúng đã gây ra. Hình phạt dành cho cái ác trong truyện cổ tích thường rất nghiêm khắc, thậm chí tàn nhẫn (Lý Thông bị sét đánh, mẹ con Cám bị làm mắm). Điều này phản ánh sự căm phẫn tột độ của nhân dân đối với áp bức, bất công và khát vọng công lý phải được thực thi một cách triệt để. Theo luận án của Nguyễn Thị Ngọc, “Triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ là hình thức phản kháng chống lại sự bất công trong xã hội”. Quy luật “ác giả ác báo” không chỉ là lời răn đe mà còn là sự khẳng định rằng mọi hành vi độc ác cuối cùng đều sẽ bị phán xét và trừng trị.

IV. Ứng dụng giá trị nhân văn cổ tích vào đời sống hiện đại

Mặc dù ra đời từ xã hội xưa, triết lý nhân sinh trong truyện cổ tích Đồng Bằng Bắc Bộ vẫn còn nguyên vẹn giá trị cho đến ngày nay. Những bài học về đạo đức, lẽ sống, và tinh thần nhân văn không hề lỗi thời trong bối cảnh xã hội hiện đại đang đối mặt với nhiều thách thức về lối sống và giá trị. Việc nghiên cứu và phát huy những giá trị này có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng nền tảng văn hóa và giáo dục con người. Giá trị nhân văn sâu sắc và tinh thần lạc quan trong truyện cổ tích là nguồn dưỡng chất quý báu để nuôi dưỡng tâm hồn, định hình nhân cách cho các thế hệ trẻ, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ hội nhập.

4.1. Vai trò giáo dục đạo đức qua truyện cổ tích cho thế hệ trẻ

Trong bối cảnh xã hội hiện đại, khi nhiều giá trị truyền thống có nguy cơ mai một, việc giáo dục đạo đức qua truyện cổ tích trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Những câu chuyện về lòng hiếu thảo, sự trung thực, lòng dũng cảm, và tinh thần yêu lao động là những bài học đầu đời đơn giản nhưng vô cùng hiệu quả. Chúng giúp hình thành ở trẻ em sự phân biệt rạch ròi giữa thiện và ác, tốt và xấu. Luận án của Nguyễn Thị Ngọc khẳng định: “Triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam góp phần giáo dục quan niệm sống tốt đẹp và lối sống nhân văn”. Bằng cách kể lại những câu chuyện này, chúng ta đang gieo vào tâm hồn thế hệ tương lai những hạt giống của lòng nhân ái và niềm tin vào những điều tốt đẹp.

4.2. Giá trị nhân văn và ý nghĩa trong việc củng cố bản sắc

Giá trị nhân văn là giá trị nổi bật và trường tồn nhất của truyện cổ tích. Đó là sự đề cao phẩm giá con người, là tình yêu thương giữa người với người, là sự bênh vực cho những số phận yếu thế. Những giá trị này góp phần hun đúc nên một tâm hồn Việt Nam giàu lòng trắc ẩn và tinh thần cộng đồng. Trong xu thế toàn cầu hóa, việc quay về tìm hiểu triết lý nhân sinh trong truyện cổ tích không chỉ là một hoạt động học thuật, mà còn là cách để củng cố bản sắc văn hóa dân tộc. Nó nhắc nhở chúng ta về cội nguồn, về những quan niệm sống của người Việt cổ đã làm nên sức mạnh tinh thần giúp dân tộc vượt qua bao thăng trầm lịch sử. Đây là nền tảng vững chắc để người Việt Nam tự tin hội nhập mà không hòa tan.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, tổng quan tình hình nghiên cứu và danh mục tài liệu tham khảo, các công trình đã công bố, nội dung của luận án được trình bày trong 3 chương, 9 tiết. 5 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Những công trình nghiên cứu có liên quan đến triết lý, triết lý nhân sinh, truyện cổ tích Việt Nam Để có thể hiểu và phân tích được những tư tưởng triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam thì trước hết cần phải hiểu được thế nào là triết lý, triết lý nhân sinh. Hiện nay đã có một số tài liệu, công trình được công bố có giá trị liên quan đến vấn đề triết lý, triết lý nhân sinh, truyện cổ tích Việt Nam.

Những công trình nghiên cứu có liên quan đến triết lý Cuốn Từ điển và danh từ triết học (1966) của tác giả Trần Văn Hiến Minh [73]. Đây là cuốn từ điển rất phong phú bao gồm cả thuật ngữ của triết học cổ, triết học kinh viện, triết học cận đại, hiện đại và đặc biệt trong phần từ điển, tác giả đã cắt nghĩa rất nhiều danh từ triết học phương Đông. Trong cuốn sách này, có các khái niệm quan trọng đối với luận án như khái niệm triết lý, nhân sinh. Triết lý là “Cái lý sâu xa, cái lẽ huyền diệu của một học thuyết hay của một sinh hoạt, một hiện tượng, một cử chỉ” [73, tr.280], khái niệm nhân sinh là “đời người” [73, tr.167] Bài viết Mấy suy nghĩ về triết học và triết lý của Hồ Sĩ Quý đăng trên tạp chí Triết học số 3/1998 đã có sự so sánh giữa hai khái niệm triết học và triết lý “Nếu có thể đem so sánh với triết học thì triết lý luôn luôn ở trình độ thấp hơn về tính hệ thống độ toàn vẹn và khả năng nhất quán trong việc giải quyết vấn đề về mối quan hệ giữa tồn tại và tư duy.

Nói một cách khác, nếu không phải là tất cả thì cũng là trong đa số các trường hợp, triết lý thường thiếu chặt chẽ hơn, phiến diện hơn và có nhiều khả năng chứa đựng mâu thuẫn hơn so với triết học"[95] Bài viết của Tô Duy Hợp, Giá trị bền vững của triết lý dân gian trong toàn cầu hóa [53] trong hội thảo quốc tế tại Viện Triết học năm 2005: “sức mạnh của triết lý được thể hiện không chỉ thông qua quá trình ứng dụng triết lý đó vào đời sống … mà có ngay trong nội dung của nó. Có điều là phải nhờ công 6 cụ của triết học và khoa học hiện đại mới sáng tỏ được sức mạnh tiềm ẩn đó… Chắc chắn là sẽ còn nhiều thách thức có thể còn to lớn hơn so với những thách thức trong lịch sử. Nhưng sức sống và giá trị của triết lý dân gian sẽ bền vững trong tiến trình đẩy mạnh quốc tế hoá và toàn cầu hoá”. Trong bài viết Văn hóa, triết lý và triết học (2008) [33] của Lương Đình Hải đã làm rõ được nội hàm khái niệm về triết lý.

Tác giả cho rằng, trong các triết lý đã thể hiện những quan niệm khác nhau về các yếu tố cơ bản và các mặt hoạt động sống của con người: vị trí con người, các quan hệ xã hội, đời sống tinh thần và các giá trị của cuộc sống con người. Những quan niệm ấy ẩn chứa bên trong các nội dung, chương trình phương thức hoạt động chung của xã hội và được cụ thể hóa bằng những quan niệm cụ thể hơn, định hướng cho hoạt động của các cá nhân và cộng đồng. Vũ Minh Tâm với bài viết Triết lý truyền thống ở Việt Nam về vũ trụ (2009) [113] đã chỉ rõ vai trò của triết lý đối với đời sống của con người. Tác giả đã cho rằng, đối với người xưa, triết lý là phương thức, công cụ hữu dụng, hiệu nghiệm để nắm bắt thế giới hiện thực, đưa dẫn nhận thức có tính bách khoa, tổng hợp, khái quát, trừu tượng và dự báo vào đời sống thực tiễn và giáo dục con người.

Các công trình nghiên cứu này đã đưa ra những quan điểm khác nhau của các tác giả về khái niệm “triết lý”, là cơ sở lý luận cho nghiên cứu sinh tham khảo trong luận án của mình. Những công trình nghiên cứu có liên quan đến triết lý nhân sinh Tìm hiểu về vấn đề triết lý nhân sinh đã có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có thể kể đến như: Cuốn Những hiểu biết về cuộc đời [32] (2001) của Trịnh Hiếu Giang và Nguyễn An đã cung cấp cho người đọc trí tuệ phong phú của các nhà hiền triết trong lịch sử nhân loại về bản chất sinh mệnh, nội dung của đời người, trạng thái sinh tồn, các kỹ xảo cần thiết để có cuộc sống hạnh phúc. Đặc biệt các tác giả đi sâu phân tích cuộc đời của các nhà hiền triết Trung Quốc thời xưa, từ đó liên hệ các trạng thái đời người hiện đại. 7 Trong cuốn Mạn đàm nhân sinh (2008) [127] của Nguyễn Thế Trắc, những vấn đề nhân sinh quan như mối quan hệ: Thiên – Địa – Nhân với kiếp người, quan niệm về họa, phúc với đời người; quan niệm tu thân, tích đức, hoàn thiện nhân cách.đã được trình bày khá rõ nét.

Tác giả đã phân tích một cách sâu sắc những triết lý sống cần thiết cho con người hiện nay, cũng như hướng con người tới những giá trị của cuộc đời. Cuốn sách Triết lý nhân sinh cuộc đời (2009) [78] của Nguyễn Gia Linh, Duyên Hải, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội có cách trình bày logic và khoa học, các vấn đề nhân sinh, ý nghĩa nhân sinh trên các bình diện khác nhau, qua đó người đọc có thể rút ra những suy nghĩ, cách giải quyết vấn đề của bản thân một cách hiệu quả. “Triết lý nhân sinh của cuộc đời chính là cây đèn soi sáng để bạn đi đến lý tưởng, thành công”. Cuốn Hành trình nhân sinh quan: Phản tính trên đường trải nghiệm (2011) [122] của tác giả Nguyễn Tất Thịnh đã đề cập nhiều vấn đề của cuộc sống.

Nhằm chia sẻ những trải nghiệm sống, giúp người đọc tìm cho mình những bài học quý giá của nhân sinh, những kỹ năng sống, cách ứng xử chân – thiện – mỹ để hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn và luôn có cái nhìn lạc quan vào cuộc sống. Trong cuốn Triết lý nhân sinh trong văn hóa Việt Nam (2016) [134] của tập thể khoa Triết học trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trần Đăng Sinh đã đưa ra khái niệm về triết lý nhân sinh “Triết lý nhân sinh là quan điểm, quan niệm của con người và cuộc sống của họ, về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và con người với con người, là sự định hướng, phương trâm hành xử của con người trong cuộc sống” [134, tr. Cũng trong cuốn sách này, Lê Văn Đoán cũng đưa ra một quan niệm khác về triết lý nhân sinh “triết lý nhân sinh là quan niệm chung sâu sắc của con người về cuộc sống, về mối quan hệ và cách ứng xử giữa người với người trong đời sống từ gia đình cho đến ngoài xã hội. Về thực chất thì triết lý nhân sinh là một bộ phận thuộc nhân sinh quan, trong đó bao gồm những quan niệm về cuộc sống của con người, nó trả lời cho các câu hỏi: Lẽ sống của con 8 người là gì? Mục đích, ý nghĩa, giá trị của cuộc sống con người ra sao và sống như thế nào cho xứng đáng? [134, tr.

Luận án tiến sĩ của Ngô Gia Tuệ (2018) [117] về“Triết lý nhân sinh của Đạo gia và ảnh hưởng của nó đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV - XVIII”. Trong quá trình nghiên cứu triết lý nhân sinh của Đạo gia, tác giả cũng đã đưa ra những nhận định về khái niệm triết lý nhân sinh: “nhân sinh là đời người, mà đời người là những vấn đề về con người, về đời sống con người, bao gồm đời sống vật chất và tinh thần, nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển con người và xã hội…Triết lý nhân sinh là cái lý sâu xa, cái lẽ huyền diệu về đời người, được con người rút ra từ hoạt động thực tiễn của mình và chỉ dẫn, định hướng cho cách ứng xử, hành động của mỗi cá nhân hoặc cộng đồng”[117, tr. Các công trình nêu trên đã đưa ra những cách hiểu khác nhau về khái niệm triết lý nhân sinh. Đây là những tư liệu quý giá để từ đó giúp nghiên cứu sinh có thể định nghĩa về khái niệm triết lý nhân sinh cũng như tạo cơ sở để phân tích được nội dung triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam.

Những công trình nghiên cứu có liên quan đến truyện cổ tích Việt Nam Do đóng vai trò là một bộ phận quan trọng trong hệ thống văn học dân gian nên truyện cổ tích giành được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong nước. Những công trình này hầu hết đều nghiên cứu về truyện cổ tích dưới góc độ văn học. Bằng cách đưa ra khái niệm, đặc trưng, nguồn gốc hình thành, phân loại truyện cổ tích và bước đầu phân tích những nội dung cơ bản của truyện cổ tích Việt Nam. Có thể kể đến các công trình: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi [12].

Công trình này gồm 5 tập được công bố lần lượt trong vòng 25 năm, từ năm 1958 đến 1982, được nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội in và tái bản năm 2000. Công trình đã nghiên cứu tỉ mỉ về khái niệm, đặc trưng, phân loại truyện cổ tích Việt Nam. Trong Phần thứ Nhất (in ở Tập I) nhan đề “Nghiên cứu truyện cổ tích nói chung và truyện cổ tích Việt Nam”, tác giả đã đưa ra những nghiên cứu của ông về 9 bản chất của truyện cổ tích, những vấn đề về truyện cổ tích nói chung cũng như truyện cổ tích Việt Nam nói riêng. Để nhận dạng thế nào là một truyện cổ tích, Nguyễn Đổng Chi nêu lên 3 tiêu chí sau đây: 1.Phải có phong cách cổ; 2.

Phải gần gũi với bản sắc dân tộc; 3. Phải có tính tư tưởng và tính nghệ thuật cao. Đồng thời ông cũng đã đưa ra những quan điểm của mình về việc phân loại truyện cổ tích. Áp dụng cho cổ tích, ông đưa ra một bảng phân loại mới gồm 3 loại như sau: 1.

Cổ tích thần kỳ (trong lần in thứ nhất, 1957, ông gọi là cổ tích hoang đường; lần in thứ 5, 1972, mới đổi là cổ tích thần kỳ); 2. Cổ tích thế sự; 3. Cổ tích lịch sử.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ