Chương 1: Bối cảnh lịch sử - xã hội và những tiền đề tư tưởng cho sự hình thành triết lý nhân sinh của Nguyễn Đình Chiểu. Chương 2: Một số nội dung cơ bản và ý nghĩa hiện thời của triết lý nhân sinh Nguyễn Đình Chiểu thể hiện qua tác phẩm “Ngư Tiều y thuật vấn đáp”. 9 Chƣơng 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ TƢ TƢỞNG LÝ LUẬN CHO SỰ HÌNH THÀNH TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU TRONG “NGƯ TIỀU Y THUẬT VẤN ĐÁP” 1. Bối cảnh lịch sử - xã hội nửa cuối thế kỷ XIX 1.
Tình hình thế giới nửa cuối thế kỷ XIX Trước khi đi vào nghiên cứu triết lý nhân sinh của Nguyễn Đình Chiểu trong tác phẩm truyện thơ “Ngư Tiều y thuật vấn đáp”, chúng ta cần tìm hiểu những nét đặc thù trong điều kiện kinh tế - xã hội ở thời kỳ lịch sử mà Nguyễn Đình Chiểu sống. Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, ở các nước Châu Âu, giai cấp tư sản lần lượt nắm chính quyền. Những năm 60 -70 của thế kỷ XVIII, cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh bắt đầu. Chiến tranh giành độc lập ở Bắc Mỹ thành công, chế độ thống trị của giai cấp tư sản thiết lập ở Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.
Hàng hóa, tư bản của các nước tư bản Âu Mỹ ùn ùn đổ ra nước ngoài và cũng tới tấp mang về vàng bạc, sản vật địa phương và nguyên liệu. Chủ nghĩa tư bản Phương Tây đua nhau tràn sang Phương Đông kiếm tìm thị trường và khai thác nguyên liệu cho công nghiệp chính quốc. Vận mệnh của tất cả các dân tộc ở Châu Á bị chủ nghĩa thực dân Phương Tây đe dọa. Lúc đó, trật tự phong kiến ở các nước châu Á đang lung lay trước mâu thuẫn không thể điều hòa được của giai cấp phong kiến cầm quyền và nông dân trong nước.
Ở Trung Quốc, trước nguy cơ mất nước bởi chủ nghĩa tư bản Phương Tây, nhà Thanh vẫn khư khư coi Trung Quốc là trung tâm của nền văn minh thế giới. Đối nội, triều đình củng cố chế độ chuyên chế, đối ngoại thì thực hiện chính sách bế quan tỏa cảng. Từ sau cuộc “chiến tranh thuốc phiện”, nhà Thanh đã buộc phải nhượng bộ tư bản Âu Mỹ, ký kết hiệp ước bất bình đẳng này đến hiệp ước bất bình đẳng khác. Hơn nữa, còn 10 liên kết với tư bản thực dân đàn áp phong trào quần chúng.
Người dân Trung Hoa phải cam chịu thân phận người dân của một nước nửa thuộc địa. Ở Nhật Bản, từ khi trục xuất những giáo sĩ Phương Tây (1639), nước Nhật cũng hầu như tách biệt với thế giới bên ngoài suốt gần hai thế kỷ. Đến giữa thế kỷ XIX, các nước Âu Mỹ cũng buộc Nhật Bản phải ký những hiệp ước bất bình đẳng. Nhưng từ những năm 60, chính phủ Minh Trị đã đề ra những cải cách kinh tế và xã hội quan trọng.
Cải cách duy tân của Nhật được thực hiện trong hoàn cảnh Mỹ có nội chiến, Nga phải đối phó với khởi nghĩa ở Ba Lan, Anh và Pháp bị thu hút vào cuộc đàn áp Thái Bình Thiên Quốc ở Trung Quốc; Pháp sa lầy vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Do đó nước Nhật thoát khỏi sự cai trị của Âu Mỹ, hơn nữa còn trở thành một đồng minh Phương Đông của các nước tư bản chủ nghĩa Phương Tây. Như vậy, rõ ràng không phải tất cả các quốc gia phương Đông vào thế kỷ XIX đều chịu số phận mất nước trước sự xâm lược của chủ nghĩa tư bản từ Phương Tây. Song sự biến đổi khá sâu sắc và phức tạp của tình hình kinh tế thế giới vào nửa cuối thế kỷ XIX đã tác động mạnh mẽ đến sự biến đổi về kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam.
Tình hình Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX Vào thế kỷ XIX, Việt Nam vẫn ở trong tình trạng trì trệ, nghèo nàn, kém phát triển. Chế độ phong kiến Việt Nam đã lâm vào tình trạng khủng hoảng nặng nề trên tất cả các mặt của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội. Về kinh tế, có thể thấy, nhà Nguyễn chính là triều đại cuối của chế độ phong kiến chuyên chế không còn khả năng mở mang kinh tế và phát huy được tiềm lực nhân dân trong xây dựng đất nước. Chế độ sở hữu ruộng đất tư nhân nhất là của giai cấp địa chủ phong kiến ngày càng lấn vào ruộng đất công của thôn xã và của nhà nước.
Công việc khai hoang tuy có kết quả, nhưng thành quả khai hoang trước hết lọt vào tay giai cấp địa chủ phong kiến. Ở Lục tỉnh, nhà 11 giàu mộ dân khai hoang và bao chiếm cả ruộng đất đồn điền. Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú cho biết: Số nhà giàu, có vùng có 40, 50 nhà, vùng có 20, 30 nhà, mỗi nhà có 50, 60 điền tốt, trâu bò có đến 200 con [10, tr. Năm 1840, các tỉnh thần Gia Định báo cáo cho Minh Mệnh: “Trong hạt không có ruộng công, các nhà giàu đã bao chiếm ruộng tư đến ngàn trăm mẫu, dân nghèo không được nhờ cậy” [62, tr.
Có thể thấy, dưới triều Nguyễn ruộng công không còn được phân nửa. Chính quyền trung ương không có ruộng công để phong cấp cho hệ thống quan lại như các triều đại thời xưa nữa mà phải thu tô thuế để phát lương cho họ và chi dùng vào các khoản khác của nhà nước, nhất là chi phí về quân sự. Quan lại, hào lý thi nhau lạm bổ, bóp nặn dân nghèo, vơ vét cho đầy túi tham. Do vậy, chính sách nông nghiệp của triều Nguyễn chỉ mưu lợi cho giai cấp địa chủ phong kiến thống trị và buộc người nông dân càng ngày càng phải đóng nhiều tô thuế, tạp dịch.
Tình trạng bế tắc của công, thương nghiệp cũng tương tự như nông nghiệp. Nhà nước độc quyền ngoại thương và thi hành chính sách bế quan tỏa cảng, khước từ quan hệ buôn bán với các nước tư bản Phương Tây. Triều đình nắm những công xưởng lớn như đúc súng, đúc tiền, đóng tàu, xây dinh thự. Nguyên liệu bị nhà nước thâu tóm.
Chế độ công tượng vẫn được thi hành: các thợ giỏi bị nhà nước trưng tập, các thợ thủ công ở địa phương bị nhà nước kiểm soát rất chặt chẽ. Trong khi đất nước đang lâm vào khủng hoảng thì thực dân phương Tây lại đang nhăm nhe xâm lược nước ta. Chiều ngày 31/8/1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha dàn trận ở cửa biển Đà Nẵng. Lực lượng Pháp gồm 2.500 quân, 13 chiến thuyền, trang bị vũ khí hiện đại, trong đó có tàu chở 50 đại bác.
Tây Ban Nha góp thêm vào đội quân xâm lược 450 tên và 01 chiến thuyền. Sáng 12 01/9/1858, Pháp gửi tối hậu thư hạn trong hai giờ phải trả lời. Chưa hết giờ hẹn, giặc bắn hàng trăm phát đại bác lên đất liền, rồi đổ bộ chiếm bán đảo Sơn Trà. Với lòng yêu nước nồng nàn, nhân dân miền Nam luôn tìm cách đánh giặc thích hợp, tiêu biểu nhất là cách đánh phá pháo thuyền - một phương tiện chiến tranh lợi hại thời bấy giờ.
Tình hình đó đã làm địch rất hoang mang, lo sợ. Nhưng chính lúc này, triều đình Huế lại ký hiệp ước ngày 5/6/1862 “Hiệp ước hòa bình và hữu nghị”, cắt 3 tỉnh miền Đông Lục tỉnh (Gia Định, Định Tường, Biên Hòa) và đảo Côn Lôn cho Pháp, bồi thường chiến phí cho Pháp 4.000 đô la, cùng với những nhượng bộ nặng nề khác, mục đích của triều đình Huế là sớm triển khai kế hoạch đối phó với phong trào nông dân miền Bắc đang trên đà phát triển. Đây bị coi như một hiệp ước bán nước cho Pháp. Sau hiệp ước năm 1862, chiếm được 3 tỉnh miền Đông và đảo Côn Lôn, thực dân Pháp thực hiện tiếp âm mưu chiếm 3 tỉnh miền Tây.
Chỉ trong vòng 5 ngày (từ 20-24/6/1867), quan quân triều đình Huế để mất cả ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, thực dân Pháp đã không gặp phải một sự kháng cự đáng kể nào. Trước thái độ nhu nhược của triều đình nhà Nguyễn, năm 1873, thực dân Pháp đã chuyển hướng tấn công ra Hà Nội, chúng liên tiếp gây ra những vụ khiêu khích thậm chí cướp phá ở Hà Nội; bắt thuyền bè của nhân dân, đánh đồn canh của quân đội triều đình ở ven sông Hồng. Đối sách của triều đình Huế chỉ là hòa nghị. Nhân dân Hà Nội đã đứng lên tự huy động võ trang, bao vây tiến đánh địch, đốt kho thuốc súng của giặc và giành được nhiều thắng lợi to lớn.
Nhưng triều đình Huế hèn nhát, bỏ lỡ thời cơ, đã không dám hiệu triệu quan quân thừa thắng tiến lên, mà ra lệnh cho lui binh, rút quân. Hãm mình trong thế bị động, thương thuyết, triều đình Huế lại ký một hiệp ước ngày 15/3/1874 tại Sài Gòn “Hiệp ước Hòa bình và Liên minh” với những điều khoản nặng nề có hại cho nước ta. Với hòa ước này, phong kiến triều Nguyễn chính thức dâng toàn bộ đất đai Nam Kỳ cho thực dân Pháp, công nhận quyền đi lại, buôn bán, kiểm 13 soát, và điều tra tình hình của chúng ở Việt Nam. Hiệp ước 1874 đã làm cho nhân dân cả nước vô cùng phẫn nộ, đánh dấu sự đầu hàng của triều Nguyễn.
Nhân dân vạch mặt chỉ tên kẻ phá hoại công cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, đó chính là triều Nguyễn. Tháng 7 năm 1883, bọn chỉ huy Pháp tại Hải Phòng bàn kế hoạch thâu tóm toàn bộ Việt Nam. Vào thời điểm đó, vua Tự Đức mất, triều đình Huế rơi vào tình trạng chia rẽ, lục đục trong vấn đề suy tôn người kế nghiệp, do vua Tự Đức không có con. Chớp thời cơ thuận lợi, ngày 20/8/1883, hạm đội Pháp, do đô đốc Cuôcbê chỉ huy, đã tiến vào chiếm đánh cửa Thuận An.
Ngày 25/08/1883, triều đình Huế phải ký ngay “Hiệp ước Hòa bình” theo những điều kiện của chúng. Với bản hiệp ước mới, Việt Nam đã mất quyền tự chủ trên phạm vi toàn quốc, triều đình Huế đã chính thức thừa nhận sự bảo hộ của nước Pháp. Mọi công việc về chính trị, kinh tế, ngoại giao của Việt Nam đều do Pháp quản lý. Đây là sự phản bội nặng nề nhất của triều đình Huế đối với nhân dân, nên bị nhân dân cả nước chống đối quyết liệt.
Trên đà thắng thế, chính phủ Pháp đã ép triều đình Huế ký kết điều ước ngày 6/6/1884 (Điều ước Patơnốt). Điều ước Patơnốt gồm 19 khoản đã xác lập quyền đô hộ lâu dài và chủ yếu của thực dân Pháp ở Việt Nam. Dưới sự cai trị của thực dân Pháp, dân tộc Việt Nam bị tước đi quyền độc lập, tự do; nhân dân Việt Nam bị mất quyền làm chủ đất nước và bị mất đi các quyền cơ bản của con người.