Tổng quan luận án
| Thuộc tính |
Thông tin chi tiết |
| Tên luận án |
Triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam |
| Nghiên cứu sinh |
Nguyễn Thị Ngọc |
| Người hướng dẫn khoa học |
1. PGS.TS Bùi Thị Thanh Hương 2. PGS.TS Trần Đăng Sinh |
| Cơ sở đào tạo |
Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh |
| Chuyên ngành |
Triết học |
| Mã số chuyên ngành |
9229001 |
| Năm hoàn thành |
2020 |
| Cấu trúc luận án |
Mở đầu, Tổng quan tình hình nghiên cứu, 3 chương (9 tiết), Kết luận, Danh sách truyện cổ tích sử dụng, Danh mục công trình khoa học của tác giả, Tài liệu tham khảo |
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong nền văn học dân gian Việt Nam, truyện cổ tích là thể loại văn học tự sự gần gũi với đời sống tinh thần của nhân dân, phản ánh phong tục tập quán, lối sống và quan niệm nhân sinh của người Việt. Đồng bằng Bắc bộ là vùng đất có lịch sử phát triển lâu đời, đóng vai trò là cái nôi hình thành văn hóa dân tộc và bảo lưu nhiều giá trị văn hóa truyền thống. Triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ thể hiện trong truyện cổ tích phản ánh kinh nghiệm sống được đúc kết từ lao động sản xuất nông nghiệp lúa nước, quá trình dựng nước, giữ nước và phương thức ứng xử giữa con người với tự nhiên, xã hội.
Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh đổi mới, hội nhập quốc tế và kinh tế thị trường, xã hội xuất hiện những hiện tượng suy thoái về lối sống, mai một các chuẩn mực đạo đức truyền thống. Việc khảo sát các giá trị tinh thần truyền thống để phục vụ công tác giáo dục nhân cách, đạo đức cho thế hệ trẻ trở thành yêu cầu thực tiễn cấp bách. Mặc dù kho tàng truyện cổ tích chứa đựng nhiều nội dung tư tưởng sâu sắc, các công trình đi trước chủ yếu tiếp cận dưới góc độ văn học hoặc folklore, chưa có công trình chuyên khảo nào phân tích có hệ thống triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích dưới góc độ chuyên ngành triết học. Do đó, đề tài luận án được lựa chọn nhằm bổ sung và làm sâu sắc thêm nội dung nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích nội dung triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ thể hiện qua truyện cổ tích Việt Nam, đánh giá các giá trị cùng những hạn chế lịch sử của triết lý này, từ đó rút ra ý nghĩa đối với đời sống xã hội Việt Nam đương đại.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm 4 nội dung:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam.
- Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về triết lý, triết lý nhân sinh và triết lý nhân sinh người Việt trong truyện cổ tích Việt Nam; xác định cơ sở hình thành triết lý này.
- Phân tích nội dung cơ bản và các đặc trưng của triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam.
- Chỉ ra những giá trị, hạn chế và ý nghĩa của triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam đối với đời sống xã hội Việt Nam hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về văn bản tư liệu: Khảo sát một số truyện cổ tích tiêu biểu của người Kinh trong bộ sách Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam gồm 5 tập của tác giả Nguyễn Đổng Chi.
- Về không gian và thời gian: Không gian địa - văn hóa vùng đồng bằng Bắc bộ; các tư tưởng nhân sinh truyền thống hình thành qua lịch sử được bảo lưu trong truyện cổ tích và sự liên hệ với thực tiễn xã hội Việt Nam hiện nay.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả luận án phân chia các tài liệu nghiên cứu liên quan thành bốn nhóm nội dung chính:
Nhóm các công trình về triết lý và triết lý nhân sinh
Nhiều tác giả đã tiếp cận định nghĩa và phân biệt các khái niệm lý luận:
- Trần Văn Hiến Minh (1966), Từ điển và danh từ triết học, giải thích triết lý là cái lý sâu xa, lẽ huyền diệu của một học thuyết hay sinh hoạt, còn nhân sinh là đời người.
- Hồ Sĩ Quý (1998), bài viết "Mấy suy nghĩ về triết học và triết lý" trên Tạp chí Triết học, chỉ ra triết lý thường ở trình độ thấp hơn triết học về tính hệ thống, độ toàn vẹn và tính nhất quán, nhưng có tính phổ biến trong đời sống.
- Tô Duy Hợp (2005), tham luận "Giá trị bền vững của triết lý dân gian trong toàn cầu hóa", phân biệt triết lý là thế giới quan kinh nghiệm, khác với triết học là thế giới quan lý luận.
- Lương Đình Hải (2008), bài viết "Văn hóa, triết lý và triết học", làm rõ nội hàm triết lý là những quan niệm định hướng hoạt động thực tiễn của cá nhân và cộng đồng.
- Vũ Minh Tâm (2009), bài viết "Triết lý truyền thống ở Việt Nam về vũ trụ", nhấn mạnh triết lý là công cụ nắm bắt thế giới và giáo dục con người.
- Phạm Xuân Nam (trong Triết lý phát triển Việt Nam mấy vấn đề cốt yếu) và Nguyễn Văn Huyên chỉ rõ triết lý là kết quả suy ngẫm, đúc kết thành quan điểm, phương châm sống cốt lõi.
- Về triết lý nhân sinh, các tác phẩm tiêu biểu gồm: Trịnh Hiếu Giang và Nguyễn An (2001), Những hiểu biết về cuộc đời; Nguyễn Thế Trắc (2008), Mạn đàm nhân sinh; Nguyễn Gia Linh và Duyên Hải (2009), Triết lý nhân sinh cuộc đời; Nguyễn Tất Thịnh (2011), Hành trình nhân sinh quan: Phản tính trên đường trải nghiệm; tập thể khoa Triết học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (2016), Triết lý nhân sinh trong văn hóa Việt Nam với các bài viết của Trần Đăng Sinh và Lê Văn Đoán; luận án tiến sĩ của Ngô Gia Tuệ (2018) về triết lý nhân sinh của Đạo gia.
Nhóm các công trình nghiên cứu truyện cổ tích Việt Nam dưới góc độ văn học
- Nguyễn Đổng Chi (1958 - 1982, tái bản 2000), bộ công trình Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (5 tập). Tác giả phân loại truyện cổ tích thành 3 tiểu loại (thần kỳ, thế sự, lịch sử), chỉ ra các đặc điểm tư duy của người Việt: ít xa rời lý trí thế tục, chịu sự ràng buộc của tâm lý thực tiễn, ít cảm quan tôn giáo.
- Đinh Gia Khánh chủ biên (2010), Văn học dân gian Việt Nam, khẳng định truyện cổ tích là bộ phận quan trọng của tự sự dân gian, phản ánh cuộc sống xã hội và lối sống cổ truyền.
- Vũ Anh Tuấn chủ biên (2012), giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, phân tích thời đại ra đời của truyện cổ tích gắn với sự tan rã của công xã thị tộc và xác lập gia đình riêng lẻ; chỉ ra các đặc trưng về thế giới hư cấu, tính mở và tính giáo huấn.
- Các công trình khác gồm nghiên cứu của Kiều Thu Hoạch (2012), Trần Hoàng (2013), Nguyễn Hằng Phương và Ngô Thanh Thúy (2014); các chuyên khảo của Nguyễn Thị Huế (1999) về môtíp nhân vật xấu xí mà tài ba, Đinh Gia Khánh (2009) về truyện Tấm Cám, Đặng Thị Thu Hiền (2009) về nhóm truyện thần kỳ "Người - Tiên".
Nhóm các công trình về triết lý nhân sinh của người Việt trong văn hóa dân gian
- Trương Chính và Phong Châu (1986), Tiếng cười dân gian Việt Nam, phân tích triết lý đấu tranh bảo vệ lẽ phải qua truyện cười.
- Đinh Gia Khánh, tác phẩm Văn hóa dân gian Việt Nam với sự phát triển của xã hội Việt Nam.
- Lê Huy Thực (2004), bài báo nghiên cứu triết lý về hạnh phúc trong tục ngữ, ca dao; Ngô Đức Thịnh (2005) về giá trị văn hóa dân gian; Nguyễn Xuân Kính (2012) và Lê Xuân Mậu (2012) khảo cứu tính triết lý và vẻ đẹp tư duy trong văn học dân gian.
- Các luận án chuyên ngành triết học: Cao Thị Hoa (2011) về triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Thừa Thiên Huế; Phùng Thị An Na về nhân sinh quan qua Folklore; Hoàng Thúc Lân chủ biên (2017) và Nguyễn Thị Tình (2018) về triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam.
Nhóm các công trình về cư dân đồng bằng Bắc bộ và triết lý trong truyện kể xứ Bắc
- Nghiên cứu địa lý văn hóa: Vũ Tự Lập chủ biên (1991), Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Hồng; Ngô Đức Thịnh (1993), Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá ở Việt Nam; Trần Quốc Vượng (1998), Cơ sở văn hóa Việt Nam.
- Tín ngưỡng và văn hóa làng: Trần Đăng Sinh nghiên cứu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên; Vũ Anh Tú (2010) về tín ngưỡng phồn thực; Nguyễn Hữu Thụ (2013) về tín ngưỡng thờ Mẫu; Thân Thị Hạnh (2016) về văn hóa làng vùng đồng bằng Bắc bộ; Bùi Văn Dũng và Nguyễn Thị Cẩm Tú (2017) về các yếu tố hình thành tín ngưỡng dân gian.
- Tiếp cận truyện kể dân gian xứ Bắc: Nguyễn Huy Bỉnh (2011, 2015) khảo sát dấu ấn địa phương hóa và không gian văn hóa xứ Bắc qua truyện kể dân gian; Bùi Văn Nguyên (1991), Việt Nam truyện cổ, triết lý và tình thương; Phạm Thị Thúy Hằng (2006), luận án về tư tưởng triết học trong truyện kể dân gian; Vũ Tố Hảo và Hà Châu nghiên cứu triết lý nhân sinh thực tiễn của nhân dân; Phạm Thị Oanh (2018), luận án về nhân sinh quan Phật giáo trong truyện cổ tích; các bài báo của Đỗ Lan Hiền (2005), Lê Thị Huệ (2009), Lê Xuân Chiến (2016).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình đi trước đã cung cấp cơ sở dữ liệu về văn học dân gian, phân tích đặc điểm địa - văn hóa đồng bằng Bắc bộ hoặc khai thác tư tưởng nhân sinh trong ca dao, tục ngữ. Tuy nhiên, việc khai thác truyện cổ tích dưới lăng kính triết học chuyên ngành vẫn mang tính đơn lẻ, tản mạn trong từng bài báo hoặc gắn với các đề tài văn học. Chưa có công trình nào nghiên cứu chỉnh thể, hệ thống hóa toàn diện về nội dung, đặc trưng, giá trị, hạn chế và ý nghĩa thực tiễn của triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong thể loại truyện cổ tích Việt Nam. Luận án của tác giả Nguyễn Thị Ngọc giải quyết khoảng trống học thuật này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và các khái niệm công cụ
Luận án dựa trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin:
- Nguyên lý về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội: Truyện cổ tích và triết lý nhân sinh là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh điều kiện kinh tế - xã hội, đời sống vật chất và thể chế làng xã truyền thống của cư dân đồng bằng Bắc bộ.
- Quan điểm duy vật lịch sử về con người: Con người vừa là thực thể tự nhiên, vừa là thực thể xã hội; con người thông qua hoạt động thực tiễn lao động sản xuất để biến đổi giới tự nhiên, đồng thời biến đổi chính bản thân mình.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và dân tộc; các chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về kế thừa, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ mới.
Hệ thống khái niệm công cụ được xác lập cụ thể:
- Triết lý: Những quan điểm, quan niệm đúc kết từ quá trình suy ngẫm, chiêm nghiệm thực tiễn cuộc sống của con người về tự nhiên, xã hội và bản thân, có vai trò định hướng hoạt động thực tiễn. Khác với triết học là hệ thống lý luận có tính trừu tượng và khái quát cao, triết lý là thế giới quan kinh nghiệm, xuất hiện sớm hơn và gắn trực tiếp với đời sống thường nhật.
- Nhân sinh và Nhân sinh quan: Nhân sinh là đời sống con người. Nhân sinh quan là hệ thống quan điểm về mục đích, ý nghĩa đời sống, lẽ sống và giá trị của con người trong xã hội.
- Triết lý nhân sinh: Theo nghĩa rộng là quan niệm về cuộc sống, lẽ sống và chuẩn mực đạo đức; theo nghĩa hẹp là quan điểm của con người về bản thân, về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và giữa con người với xã hội, trở thành phương châm hành xử trong cuộc sống.
- Truyện cổ tích Việt Nam: Thể loại tự sự dân gian có cốt truyện và hình tượng hư cấu có chủ định, kể về số phận con người trong xã hội có phân chia giai cấp, thể hiện tinh thần nhân đạo, ước mơ về công bằng xã hội và phẩm chất con người; gồm ba loại: cổ tích về loài vật, cổ tích thần kỳ và cổ tích sinh hoạt.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án là công trình nghiên cứu định tính thuộc chuyên ngành triết học, không sử dụng các mô hình định lượng hay phân tích thống kê toán học. Tác giả vận dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Tách bạch các khía cạnh triết lý trong từng văn bản truyện, sau đó khái quát thành các bình diện triết lý nhân sinh.
- Phương pháp quy nạp và diễn dịch: Rút ra các luận điểm triết lý chung từ những chi tiết, cốt truyện cụ thể và ngược lại.
- Phương pháp logic và lịch sử: Đặt truyện cổ tích và tư tưởng nhân sinh trong tiến trình lịch sử xã hội phong kiến Việt Nam ở vùng châu thổ Bắc bộ.
- Phương pháp so sánh và đối chiếu: Phân tích sự tương đồng, khác biệt giữa truyện cổ tích với các thể loại văn hóa dân gian khác, cũng như ảnh hưởng của các tôn giáo (Nho, Phật, Đạo) đối với nhận thức dân gian.
Nguồn tư liệu
Tư liệu cốt lõi phục vụ nghiên cứu là các văn bản truyện cổ tích của người Kinh được tuyển chọn trong bộ sách Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (5 tập) do giáo sư Nguyễn Đổng Chi sưu tầm, biên soạn và khảo cứu, cùng hệ thống các văn bản nghiên cứu triết học, lịch sử, văn hóa học, văn học dân gian liên quan.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam - Một số vấn đề lý luận
Chương 1 tập trung giải quyết các khái niệm tiền đề và phân tích ba nhóm cơ sở hình thành triết lý nhân sinh của cư dân vùng đồng bằng Bắc bộ:
- Xác lập hệ thống khái niệm: Luận án hệ thống hóa các định nghĩa về triết lý, nhân sinh, nhân sinh quan, triết lý nhân sinh và truyện cổ tích Việt Nam. Tác giả làm rõ ranh giới giữa triết học (tính hệ thống, tính lý luận trừu tượng) và triết lý (tính kinh nghiệm, phản ánh đời sống thường nhật), từ đó xác định triết lý nhân sinh trong truyện cổ tích là hệ thống tri thức dân gian đúc kết lẽ sống, cách ứng xử của người nông dân.
- Cơ sở hình thành triết lý nhân sinh:
- Điều kiện địa lý, tự nhiên và kinh tế - xã hội: Đồng bằng Bắc bộ có địa hình bằng phẳng tạo bởi phù sa sông Hồng và sông Thái Bình, khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều, thường xuyên đối mặt với lũ lụt, thiên tai. Phương thức sản xuất thuần nông lúa nước đòi hỏi sự gắn kết cộng đồng trong việc đắp đê, trị thủy, làm thủy lợi. Kết cấu làng xã cổ truyền khép kín với lũy tre xanh tạo nên lối sống cố kết cộng đồng, tính tự trị và tính cộng đồng cao, đồng thời sản sinh phương thức tư duy kinh nghiệm nông nghiệp.
- Cơ sở văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo: Vùng đất bảo lưu tín ngưỡng nông nghiệp nguyên thủy, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng phồn thực (cầu mong sự sinh sôi nảy nở của mùa màng và con người) và tín ngưỡng thờ Mẫu. Đồng thời, đây là nơi tiếp nhận và dung hợp sâu sắc Tam giáo (Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo). Dưới góc nhìn dân gian, các giáo lý hàn lâm được bình dân hóa, chọn lọc những yếu tố phù hợp với tâm thức người Việt (thuyết nhân quả, lòng từ bi của Phật giáo; đạo hiếu, trật tự luân thường của Nho giáo; lối sống thuận tự nhiên của Đạo giáo).
- Cơ sở nhận thức và tâm lý: Cư dân đồng bằng Bắc bộ có tư duy cụ thể, cảm tính, nặng về kinh nghiệm đúc kết qua thực tiễn canh tác; tâm lý thực tế, coi trọng cuộc sống hiện hữu trần gian hơn thế giới hư ảo bên kia; tâm lý chuộng sự hài hòa, ổn định và linh hoạt thích ứng với hoàn cảnh tự nhiên và xã hội.
Chương 2: Nội dung triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam
Chương 2 là chương trọng tâm của luận án, trình bày nội dung triết lý nhân sinh trên ba chiều cạnh quan hệ và chỉ ra bốn đặc trưng cơ bản:
NỘI DUNG TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
- Triết lý về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên:
- Sống hài hòa với tự nhiên: Con người coi tự nhiên là người bạn gắn bó máu thịt, tôn trọng nhịp điệu mùa vụ, hòa mình vào sông nước, đồng ruộng, cây cối (các loài vật như trâu, chim, cá thường xuất hiện như bạn đồng hành trợ giúp con người).
- Cải tạo, chinh phục tự nhiên: Thể hiện ý chí kiên cường chống chọi thiên tai, cải tạo đất đai, trị thủy bảo vệ mùa màng, phản ánh qua các tích truyện biến cải hoàn cảnh sinh tồn.
- Triết lý về mối quan hệ giữa con người với gia đình và xã hội:
- Trong gia đình: Đề cao đạo hiếu đối với cha mẹ; tình nghĩa vợ chồng son sắt, thủy chung (Sự tích trầu cau, Ba Ông Bếp); tình anh em ruột thịt keo sơn, phê phán sự tham lam phản bội tình thân (Cây khế). Đồng thời, truyện cổ tích phản ánh sâu sắc các xung đột nảy sinh trong gia đình phụ quyền thời kỳ phong kiến (mẹ ghẻ - con chồng, con đẻ - con nuôi trong Tấm Cám, Thạch Sanh).
- Trong xã hội: Thể hiện tinh thần tương thân tương ái, "lá lành đùm lá rách" trong cộng đồng làng xã; đề cao lẽ công bằng, thưởng phạt nghiêm minh theo luật nhân quả trần thế; lên án các thế lực cường quyền, địa chủ, phú ông tham lam, độc ác lừa gạt người lao động nghèo (Cây tre trăm đốt); phản kháng lại sự áp bức bóc lột, bảo vệ những số phận thiệt thòi, cô thế (người mồ côi, người đi ở, người em út).
- Triết lý về mối quan hệ giữa con người với chính bản thân mình:
- Triết lý về cuộc đời: Xem cuộc đời tuy đầy rẫy bất công, nhọc nhằn nhưng đáng sống; phủ định thái độ yếm thế, hư vô; hạnh phúc và sự đền bù phải diễn ra ngay tại cõi đời thực chứ không phải ở kiếp sau hư ảo.
- Nhận thức của con người về chính mình: Khẳng định phẩm giá, danh dự và lòng tự trọng; ca ngợi trí thông minh, sự mưu trí của người bình dân lao động trước kẻ thống trị quyền thế; đề cao tinh thần tự lực vươn lên làm chủ số phận (tiêu biểu như nhân vật Mai An Tiêm trong Sự tích dưa hấu dám đối lập với tư tưởng phụ thuộc ơn vua).
- Bốn đặc trưng của triết lý nhân sinh:
- Phản ánh tồn tại xã hội một cách phong phú và chân thật, từ tập quán canh tác, phong tục ăn trầu, lễ hội đến các quan hệ giai cấp làng quê.
- Chịu ảnh hưởng và dung hợp các yếu tố của Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo nhưng được chuyển hóa theo thế giới quan bình dân thế tục.
- Là hình thức phản kháng xã hội mạnh mẽ chống lại sự bất công, bênh vực kẻ yếu.
- Là hình thức phản ánh sinh động các cung bậc thẩm mỹ: cái hài (tiếng cười hóm hỉnh châm biếm), cái bi (nỗi đau của những kiếp người bất hạnh) và cái cao cả (sự hy sinh, lòng nhân ái, nghĩa khí).
Chương 3: Giá trị, hạn chế của triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong truyện cổ tích Việt Nam và ý nghĩa của nó đối với đời sống xã hội Việt Nam hiện nay
Chương 3 đánh giá hai mặt giá trị - hạn chế và luận giải ý nghĩa đối với thực tiễn xã hội hiện đại:
- Giá trị của triết lý nhân sinh:
- Thể hiện tinh thần nhân văn và nhân đạo sâu sắc: Đặt con người vào vị trí trung tâm, trân trọng sinh mệnh, đứng về phía những người nghèo khổ, số phận bất hạnh để an ủi và mang lại niềm tin vào công lý.
- Có tính biện chứng, mềm dẻo và linh hoạt: Thái độ ứng xử linh hoạt trước biến cố, kết hợp nhuần nhuyễn giữa đạo lý và tình cảm, thuận ứng tự nhiên nhưng kiên cường trước thử thách.
- Đề cao vai trò của người phụ nữ: Khác với quan niệm "trọng nam khinh nữ" của Nho giáo phong kiến, truyện cổ tích đồng bằng Bắc bộ khẳng định vai trò trụ cột, đức hy sinh, sự tần tảo và phẩm chất thủy chung, thông minh của người phụ nữ trong gia đình và xã hội.
- Hạn chế của triết lý nhân sinh:
- Còn chứa đựng yếu tố duy tâm, thần bí: Khi bế tắc trước hiện thực mâu thuẫn giai cấp, nhân dân lao động thường cầu viện và trông chờ vào sự can thiệp của các lực lượng siêu nhiên (ông Bụt, bà Tiên, phép lạ) để giải quyết xung đột, thể hiện sự bất lực của nhận thức thời kỳ lịch sử đó.
- Thể hiện nhận thức kinh nghiệm: Tri thức nhân sinh dừng lại ở mức độ chiêm nghiệm cảm tính, rời rạc qua từng tình huống cụ thể, chưa được khái quát thành hệ thống lý luận chặt chẽ.
- Thể hiện tư duy tiểu nông: Tâm lý bình quân cào bằng, tư tưởng an phận thủ thường, tính cục bộ địa phương của văn hóa làng xã khép kín.
- Ý nghĩa đối với đời sống xã hội Việt Nam hiện nay:
- Bối cảnh thực tiễn: Sự tác động của cơ chế thị trường và toàn cầu hóa làm nảy sinh lối sống thực dụng, vị kỷ, coi trọng vật chất, dẫn tới sự rạn nứt trong quan hệ gia đình và suy giảm đạo đức xã hội.
- Giáo dục quan niệm sống tốt đẹp và lối sống nhân văn: Kế thừa tinh thần lạc quan, tình thương yêu con người, lòng vị tha và thái độ sống trung thực, lành mạnh.
- Gìn giữ và phát huy giá trị đạo đức truyền thống: Củng cố đạo hiếu trong gia đình, tinh thần đoàn kết tương trợ trong cộng đồng, tôn vinh đức tính cần cù lao động và khát vọng công bằng xã hội.
Kết quả và những đóng góp mới
Căn cứ nội dung tự công bố tại phần Mở đầu của văn bản luận án, công trình đạt được những kết quả và đóng góp mới sau:
- Về mặt khoa học:
- Luận án đã hệ thống hóa và xác định rõ ràng những nội dung cơ bản trong triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ qua truyện cổ tích Việt Nam trên ba bình diện: mối quan hệ giữa con người với tự nhiên; con người với gia đình, xã hội; và con người với chính bản thân mình.
- Luận án đã chỉ ra và luận giải bốn nét đặc trưng cơ bản của triết lý nhân sinh này: phản ánh tồn tại xã hội chân thực; dung hợp tư tưởng Phật - Nho - Đạo; tính chất phản kháng chống bất công xã hội; và sự đan xen các phạm trù thẩm mỹ (cái hài, cái bi, cái cao cả).
- Luận án đã phân tích khách quan, toàn diện cả mặt giá trị nhân văn tích cực lẫn những hạn chế lịch sử (yếu tố duy tâm, tư duy kinh nghiệm, tư tưởng tiểu nông) của triết lý nhân sinh cư dân đồng bằng Bắc bộ, từ đó rút ra ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với xã hội Việt Nam đương đại.
- Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
- Cần khai thác có chọn lọc kho tàng truyện cổ tích như một kênh tư liệu quan trọng trong công tác giáo dục đạo đức, bồi dưỡng nhân cách cho thế hệ trẻ trong nhà trường và gia đình.
- Phát huy các giá trị nhân văn truyền thống (đạo hiếu, nghĩa tình, tinh thần tương trợ cộng đồng) kết hợp với việc khắc phục tâm lý tiểu nông, thói ỷ lại, trông chờ vào ngoại lực để xây dựng con người mới đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án:
- Về nguồn ngữ liệu: Luận án giới hạn khảo sát trên một số truyện cổ tích tiêu biểu của người Kinh trong bộ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi; chưa mở rộng so sánh với truyện cổ tích của các tộc người thiểu số cùng sinh sống trên địa bàn miền Bắc.
- Về tính chất dữ liệu: Do truyện cổ tích là sáng tác dân gian truyền miệng trải qua nhiều thời kỳ lịch sử với nhiều dị bản khác nhau, việc xác định niên đại phát sinh chính xác của từng quan niệm nhân sinh trong từng môtíp truyện còn gặp ranh giới nhất định.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ với cư dân các vùng văn hóa khác (như đồng bằng duyên hải miền Trung, vùng đất Nam Bộ).
- Nghiên cứu đối sánh triết lý nhân sinh trong truyện cổ tích của người Kinh với truyện cổ tích của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng cụ thể:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Chuyên ngành Triết học, Triết học văn hóa, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Văn hóa học, Văn học dân gian có thể tham khảo phương pháp tiếp cận triết học đối với văn bản văn học dân gian.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu: Sử dụng làm tài liệu phục vụ giảng dạy các học phần về Triết học Việt Nam, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Cơ sở văn hóa Việt Nam.
- Cán bộ quản lý văn hóa và giáo dục: Tham khảo các luận điểm tại Chương 3 để hoạch định nội dung tuyên truyền, giáo dục giá trị đạo đức truyền thống và lối sống nhân văn cho học sinh, sinh viên trong bối cảnh hiện nay.
- Phần đáng tham khảo nhất:
- Hệ thống hóa lý luận về mối quan hệ giữa "triết học" và "triết lý" tại Chương 1.
- Ma trận nội dung triết lý về ba mối quan hệ và bốn đặc trưng tại Chương 2.
- Phần phân tích hạn chế mang tính lịch sử (yếu tố duy tâm và tư duy tiểu nông) tại Chương 3.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt khái niệm "triết học" và "triết lý" như thế nào?
Luận án phân biệt triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, khái quát nhất về thế giới và vị trí của con người, có tính hệ thống chặt chẽ và khái quát hóa cao. Ngược lại, triết lý là những quan điểm, quan niệm giản đơn, bình dị hơn, đúc kết trực tiếp từ kinh nghiệm sinh hoạt và lao động sản xuất hàng ngày, chưa được kiểm chứng khoa học hệ thống nhưng đóng vai trò định hướng phương châm sống và hành vi thực tiễn của cá nhân và cộng đồng.
2. Triết lý về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong truyện cổ tích đồng bằng Bắc bộ gồm những nội dung gì?
Nội dung này bao gồm hai khía cạnh biện chứng: một mặt là triết lý sống hài hòa, thuận ứng với tự nhiên, coi vạn vật là bạn đồng hành gắn bó với nông nghiệp lúa nước; mặt khác là triết lý cải tạo và chinh phục tự nhiên, thể hiện qua ý chí kiên cường chống chọi thiên tai bão lũ, đắp đê trị thủy để bảo vệ sự sinh tồn và mùa màng.
3. Triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ chịu ảnh hưởng của các tôn giáo nào?
Triết lý nhân sinh này chịu ảnh hưởng của Tam giáo gồm Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo. Tuy nhiên, cư dân dân gian không tiếp thu nguyên bản giáo lý kinh viện mà dung hòa, bình dân hóa: tiếp thu thuyết nhân quả và tinh thần từ bi của Phật giáo; tiếp thu đạo hiếu và luân thường đạo lý của Nho giáo; tiếp thu tinh thần sống giản dị, hòa hợp tự nhiên của Đạo giáo, hướng toàn bộ vào việc phục vụ đời sống trần thế.
4. Luận án chỉ ra những hạn chế lịch sử nào của triết lý nhân sinh trong truyện cổ tích?
Luận án chỉ ra ba hạn chế chủ yếu: thứ nhất, còn chứa đựng yếu tố duy tâm thần bí khi trông chờ vào lực lượng siêu nhiên (Bụt, Tiên, phép lạ) để giải quyết bất công xã hội; thứ hai, dừng lại ở nhận thức kinh nghiệm cảm tính, thiếu tính khái quát lý luận; thứ ba, thể hiện tư duy tiểu nông với tâm lý bình quân cào bằng, an phận và tính cục bộ làng xã.
5. Điểm khác biệt trong quan niệm về số phận con người giữa truyện cổ tích Việt Nam và giáo lý tôn giáo là gì?
Trong truyện cổ tích Việt Nam, người nông dân khẳng định cuộc sống trần thế là đáng quý, hạnh phúc phải được đền bù và cái ác phải bị trừng trị ngay tại cuộc đời này ở cõi dương gian, chứ không chấp nhận quan điểm buông xuôi, yếm thế hay chờ đợi sự giải thoát ở thế giới bên kia hư ảo.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Ngọc là công trình nghiên cứu chuyên ngành triết học đã hệ thống hóa toàn diện nội dung, đặc trưng của triết lý nhân sinh của cư dân đồng bằng Bắc bộ qua lăng kính truyện cổ tích Việt Nam. Dựa trên cơ sở lý luận duy vật lịch sử, công trình đã làm sáng tỏ thế giới quan, nhân sinh quan của người nông dân truyền thống qua cách ứng xử với tự nhiên, xã hội và bản thân. Việc chỉ ra cả giá trị nhân đạo sâu sắc lẫn các hạn chế lịch sử của triết lý này mang lại cơ sở lý luận cho công tác giáo dục đạo đức truyền thống và định hướng lối sống văn hóa trong xã hội Việt Nam đương đại. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử tư tưởng triết học và văn hóa Việt Nam.