Chương 1 ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ JOHN STUART MILL 1. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ JOHN STUART MILL 1. Điều kiện lịch sử hình thành triết học chính trị John Stuart Mill John Stuart Mill (1806 - 1873) là triết gia và nhà hoạt động chính trị nổi tiếng nước Anh thế kỷ XIX.Mill mang đậm dấu ấn thế kỷ XIX. Hay nói cách khác, xã hội nước Anh thời đó đã tác động sâu sắc đến sự hình thành tư tưởng J.
Đầu thế kỷ XIX, Anh đã trở thành một nước công nghiệp thực thụ. Cảnh sống điền viên trước đây không còn nữa. Thay vào đó là một đời sống công nghiệp nhộn nhịp, với những chuyển biến kinh tế từ nông thôn đến thành thị. Công nghiệp đã trở thành mạch máu của đất nước.
Bước chuyển quan trọng trong lĩnh vực kinh tế của nước Anh được khai mở bởi cuộc cách mạng công nghiệp. Từ nửa sau thế kỷ XVIII, cách mạng công nghiệp nổ ra ở Anh, đánh dấu một bước ngoặt trong phát triển sản xuất. Cuộc cách mạng này sau đó phát triển lan rộng ra toàn thế giới, ảnh hưởng tới vận mệnh của nhân loại, cuối cùng thay đổi hướng đi của lịch sử. Đó là cuộc cách mạng công nghiệp tư bản chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới5.
“Cuộc cách mạng công nghiệp đối với Anh có ý nghĩa quan trọng ngang với cuộc cách mạng chính trị đối với nước Pháp và cuộc cách mạng triết học đối với nước Đức” [24, tr. Cuộc cách mạng công nghiệp đã thay đổi căn bản diện mạo của nước Anh, một quốc gia khiêm tốn về diện tích trên bản đồ thế giới. Năm 1780, sản lượng sắt của Anh không bằng Pháp. Đến năm 1848, Anh đã vượt tổng sản lượng sắt của tất cả các nước trên thế giới, chiếm 2/3 tổng sản lượng than, 1/2 16 sản lượng vải bông trên thế giới.
Giá trị tổng sản phẩm quốc dân từ năm 1801 - 1851 tăng 125,6%, từ năm 1851 - 1901 tăng 213,9% [15, tr. Nước Anh nhanh chóng trở thành quốc gia giàu có nhất thế giới. Năng lực sản xuất của nước Anh còn mạnh hơn tổng sản lượng công nghiệp của tất cả các quốc gia khác trên thế giới. Năm 1851, nước Anh tổ chức hội nghị triển lãm thế giới ở trung tâm London6.
Sản phẩm trưng bày của nước Anh chủ yếu là hàng công nghiệp, còn sản phẩm của nước ngoài phần lớn là hàng nông nghiệp và thủ công nghiệp. Bằng cuộc triển lãm quy mô, nước Anh dường như muốn tuyên bố với toàn thế giới rằng nó đã bước vào thời đại công nghiệp, đứng đầu thế giới về công nghiệp. Với một nền kinh tế có sức mạnh tăng trưởng vượt trội, nước Anh thế kỷ XIX được gắn danh hiệu “đế quốc thứ nhất” của thời kỳ tư bản chủ nghĩa.Mill sinh ra tại London và phần nhiều cuộc đời ông đã trải nghiệm tại thành phố phát triển sầm uất bậc nhất thế giới này. Những bước tiến như vũ bão của nền kinh tế Anh thế kỷ XVIII - XIX đã tác động rất lớn đến sự hình thành một thế hệ những nhà kinh tế học tiêu biểu, trong đó có J.
Không phải ngẫu nhiên khi J.Mill trở thành nhân vật kế tục xuất sắc truyền thống kinh tế học cổ điển Anh giai đoạn cận đại. Và chính những nhận định sâu sắc của J.Mill về kinh tế sẽ hộ trợ ông rất nhiều trong lĩnh vực triết học chính trị. Thế nên, dễ hiểu khi tư tưởng kinh tế chính trị, triết học chính trị của J.Mill tuy bao quát nhưng vẫn rất nhạy bén. Cách mạng công nghiệp đã khiến nền kinh tế Anh phát triển nhanh chóng, đồng thời cũng làm biến đổi kết cấu xã hội nước này một cách rõ rệt.Ăngghen từng viết: “Cuộc cách mạng mà hiện nay người ta chỉ vừa mới bắt đầu nhận thức được ý nghĩa lịch sử toàn thế giới của nó thì đồng thời nó cũng đã làm biến đổi toàn bộ xã hội công dân” [24, tr.
Sau cách mạng công nghiệp, các giai cấp trong xã hội có sự chuyển biến không đồng nhất. 17 Máy móc ra đời đã ảnh hưởng mạnh đến đời sống của tầng lớp thợ thủ công, khiến họ bị đào thải. Với sự ứng dụng máy móc vào sản xuất, từng ngành, từng nghề được cơ giới hóa và được công xưởng hóa. Do đó, hàng loạt thợ thủ công của nhiều ngành nghề bị mất việc làm.
Nước Anh khi này xuất hiện ngày càng nhiều người thất nghiệp. Số thợ thủ công còn có việc làm thì đời sống sinh hoạt cũng khá eo hẹp, khó khăn và thiếu thốn. Tình trạng đó khiến phụ nữ và trẻ em cũng phải tìm kiếm việc làm, thậm chí chấp nhận cả những công việc nặng nhọc ở nhà máy, để mưu sinh qua ngày. Đây chính là cơ sở thực tế lý giải vì sao bình đẳng giới trở thành vấn đề được quan tâm trong triết học của J.
Nếu như tầng lớp thợ thủ công đứng trước nguy cơ diệt vong thì một giai tầng mới sẽ ra đời thay thế nó. Cách mạng công nghiệp đã tạo điều kiện cho sự ra đời của một giai cấp mới là giai cấp công nhân. Nói cách khác, công nhân công xưởng là sản phẩm của nền đại công nghiệp. Trong cuộc cách mạng công nghiệp, họ trải qua một quá trình phát triển từ không đến có, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn.
Nhưng, thực tế đời sống công nhân rất khó khăn và khổ cực. Họ bị chủ xưởng bóc lột nặng nề. Công nhân làm việc trên 10 giờ trong một ngày, tiền công thấp, kỷ luật lao động nghiêm khắc, điều kiện làm việc thiếu an toàn. Tình trạng nan giải đó khiến cho giai cấp công nhân có những đòi hỏi rất bức thiết về quyền lợi kinh tế cũng như quyền lợi chính trị.
Trong hầu hết các nhà máy đã hình thành công đoàn hay những hiệp hội để công nhân hỗ trợ lẫn nhau. Ngược lại với sự bần cùng hóa của giai cấp công nhân lao động nghèo khổ là quá trình giàu lên nhanh chóng của những chủ xưởng, hay những ông chủ tư bản. Bằng vị trí kinh tế và địa vị xã hội thuận lợi, giai cấp tư sản đã làm giàu thông qua việc bóc lột sức lao động của công nhân làm thuê. Sự đối nghịch đó tạo nên những mâu thuẫn sâu sắc trong xã hội tư bản Anh thế kỷ 18 XIX nói riêng, cũng như xã hội tư bản phương Tây nói chung.
Đó là những mâu thuẫn cụ thể về lợi ích kinh tế và lợi ích chính trị. Như vậy, có thể thấy, đại cách mạng công nghiệp đã tích tụ được khối lượng tài sản khổng lồ. Tuy nhiên, sự phân phối tài sản không đồng đều đã tạo nên trạng thái căng thẳng trong xã hội và mâu thuẫn gay gắt giữa các giai cấp. Tình hình kinh tế - xã hội đó đã tạo điều kiện và tác động mạnh mẽ đến đời sống chính trị Anh thế kỷ XIX.
Chính trị nước Anh thế kỷ XIX được gọi là thời đại cải cách nghị viện 7. Những biến cố xã hội và sự xuất hiện của các giai cấp mới khiến cho thể chế chính trị cũ không còn phù hợp. Hiện thực xã hội đòi hỏi phải thay đổi chế độ tuyển cử, để mọi giai cấp đều có quyền lợi chính trị tương xứng. Đó chính là tính tất yếu lịch sử của cải cách nghị viện.
Từ thế kỷ XIII, nghị viện đã được thành lập ở Anh. Nghị viện Anh gồm hai viện: thượng viện (viện nguyên lão) và hạ viện (viện dân biểu). Thượng viện được quyền kế thừa, cha truyền con nối; còn hạ viện phải thông qua những cuộc bầu cử nghiêm ngặt. Sau cách mạng quang vinh (1688), chế độ quân chủ lập hiến Anh được xác lập, quyền lực nghị viện trở thành trung tâm.
Bản thân nghị viện cũng chia thành hai phái. Hai phái này về sau được mệnh danh bằng hai tên gọi mang tính vĩnh cửu: đảng Whig (tiền thân của đảng Tự do) và đảng Tory (tiền thân của đảng Bảo thủ). Chế độ chính đảng của nước Anh bắt đầu lộ diện. Đảng Whig đại diện cho quyền lợi của bộ phận quý tộc giàu có nhờ mua tài sản, đất đai phong kiến trong thời cách mạng và có liên hệ chặt chẽ với đại tư sản thương nghiệp hay chủ ngân hàng.
Còn đảng Tory thể hiện quyền lợi của đại địa chủ. Hai đảng thay nhau phụ trách công việc quản lý nhà nước, cạnh tranh nhau để chiếm ưu thế về số ghế trong nghị viện. Tuy nhiên, sau cuộc cách mạng 1688, giai cấp quý tộc và giai cấp tư sản vẫn là một liên minh chính trị bền vững. Vậy nên, cả hai đảng đều bảo vệ quyền 19 lợi của giai cấp tư sản và giai cấp quý tộc, cố gắng duy trì quyền lợi của giai cấp thống trị.
Chế độ tuyển cử cũ của Anh tồn tại những bất cập về phân phối nghị sĩ, khu vực tuyển cử và tư cách quyền bầu cử. Những hạn chế như phân phối ghế nghị viện không hợp lý, quyền bầu cử bị giới hạn, thủ đoạn bầu cử hủ bại đều được cải thiện và khắc phục từng bước thông qua cải cách. Năm 1789, cách mạng tư sản Pháp bùng nổ, gây tiếng vang lớn đối với thế giới. Khi cách mạng Pháp mới bùng nổ, dư luận trong và ngoài chính phủ Anh đều ủng hộ, cho rằng nó thể hiện được lý tưởng chính trị Anh.
Nhưng không bao lâu, tầng lớp trên thay đổi thái độ. Họ lo ngại biến cố chính trị của nước Pháp uy hiếp đến chế độ nước Anh. Đặc biệt, thời kỳ chuyên chính Gia- cô-banh (Jacobin) ở Pháp đã làm tầng lớp trên ở Anh chuyển hẳn sang khuynh hướng bảo thủ. Chính phủ đảng Tory tiến hành trấn áp yêu cầu cải cách của quần chúng, với mục đích nhằm ngăn chặn bạo loạn.
Thế nhưng, ánh sáng cách mạng Pháp đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhiệt tình chính trị của quần chúng nhân dân. Đại cách mạng tư sản như mang một thông điệp khuyến khích quần chúng lao động bình thường cũng có thể tham gia chính sự. Điều đó khiến phong trào cải cách nghị viện càng trở nên rầm rộ. Phong trào cải cách bắt đầu phát triển mạnh từ đầu thế kỷ XIX, với sự tham gia của nhiều tầng lớp, như chủ đất nhỏ, thợ thủ công, công nhân.
Ngày 16/11/1830, lãnh tụ đảng Whig tổ chức chính phủ, lập tức định ra phương án cải cách. Đến ngày 1/3/1831, đảng Whig công bố phương án cải cách. Trải qua một thời gian đấu tranh kịch liệt, ngày 7/6/1832, Luật cải cách được nhà vua ký, chính thức có hiệu lực. Cải cách nghị viện lần thứ nhất đã thành công.
Nó mở rộng quyền bầu cử cho bộ phận tầng lớp trung lưu mới nhằm giảm bớt căng thẳng chính trị trong xã hội.