Phần mở đầu: nêu lý do lựa chọn đề tài, đối tƣợng nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn. Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu về cơ sở khoa học của nghiên cứu, hiện trạng tình hình phát triển năng lƣợng sinh học. Chƣơng 2: Địa điểm, thời gian và các phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Trình bày các kết quả nghiên cứu về công nghệ Cellulosic Ethanol, hiện trạng, triển vọng và các vấn đề ứng dụng công nghệ NLSH tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó đề xuất giải pháp phát triển NLSH cho khu vực nghiên cứu.
Kết luận, khuyến nghị và các phụ lục. 3 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của nghiên cứu 1. Xã hội học Thuyết hành vi (Behaviorism) Đây là một trƣờng phái tâm lý học giải thích về hành vi chỉ dựa trên những quan sát hành vi thấy rõ (overt behaviors) hơn là dựa vào những quá trình nhận thức diễn ra bên trong não hay là những hành vi không thấy rõ (covert behaviors).
Thuyết hành động xã hội Đƣợc các nhà khoa học xã hội sử dụng để hiểu đƣợc các hệ thống xã hội và các hệ thống nhân cách qua việc phân tích các hành động và các cá nhân thể hiện các hành động đó - đƣợc gọi là các chủ thể hành động. Để đánh giá một hành động, nhà nghiên cứu cần xem xét các giá trị và mục đích của chủ thể trong quá trình thực hiện hành động cũng nhƣ thể hiện hành vi. Lý thuyết hành động khác với hành vi luận cổ điển, lý luận này quá nhấn mạnh đến những hành vi có động cơ giá trị của các cá nhân và các ý nghĩa chủ thể gắn với một hành động. Hành vi đƣợc nhìn nhận là xảy ra trong các tình huống và các mối quan hệ xác định về văn hóa và bao gồm cả những giá trị và những kỳ vọng nội tại của các chủ thể về sự phản ứng lại các cá nhân khác.
Thuyết xung đột xã hội Trong xã hội học hiện đại, vẫn có những thuyết đối lập nhau trong vấn đề đánh giá vai trò lịch sử của xung đột xã hội. Thuyết cân bằng [ Paxơn (T. Parsons)] coi xung đột xã hội là bệnh hoạn của một xã hội lành mạnh. Thuyết xung đột [Côxơ (L.
Coser), Đarenđop (R. Dahrendorf)] cho xung đột xã hội có chức năng tăng cƣờng tính thích ứng của tổ chức xã hội, chính là bảo đảm tính liên tục của xã hội. Cả hai thuyết đều phiến diện, nhƣng lại bổ sung lẫn nhau. Cần nhận thức xã hội về cả hai mặt đồng thời và lịch thời: mặt đồng thời thì xem xét cấu trúc xã hội, mặt lịch thời thì xem xét quá trình xã hội.
Hai trạng thái cân bằng và xung đột nằm trong 4 cùng một quá trình, quan hệ với nhau tƣơng tự nhƣ quan hệ giữa trị và loạn, thƣờng và biến. Một số định nghĩa liên quan. Môi trƣờng Theo nghĩa khái quát: môi trƣờng của một vật thể một sự kiện là tổng hợp toàn bộ điều kiện bên ngoài có ảnh hƣởng lên vật thể, sự kiện đó. Môi trƣờng của UNEP: “Môi trƣờng là một tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế xã hội tác động lên từng cá thể hay cả cộng đồng.” Bách khoa toàn thƣ về môi trƣờng (1994) đƣa ra định nghĩa: “ Môi trƣờng là tập thể các thành tố sinh thái tự nhiên, xã hội nhân văn và các điều kiện tác động trực tiếp hay gián tiếp lên sự phát triển, sinh hoạt và đời sống và hoạt động của con ngƣời trong thời gian bất kì.” Ô nhiễm môi trƣờng Là sự biến đổi các thành phần môi trƣờng, gây ảnh hƣởng xấu đến con ngƣời và sinh vật.
Xung đột môi trƣờng Là một dạng xung đột xã hội. Xuất hiện nhƣ một tất yếu khách quan. Xuất hiện khi các chức năng của môi trƣờng lẫn át lẫn nhau. Nhóm Là một tập hợp ngƣời mà trong đó có các cá nhân quan hệ qua lại với nhau theo một cấu trúc và cơ chế nào đó.
Ở đây, các cá nhân tham gia một cách tự nhiên. (nhập môn xã hội học, tr.175) Là một tập thể có từ hai ngƣời trở lên, có mức độ nhận biết chung và cùng tƣơng tác với nhau thƣờng xuyên.Macionis, xã hội học, tr.219) Là tập hợp những ngƣời có cùng những nguyên tắc, giá trị và kì vọng, tƣơng tác với nhau trên cơ sở đều đặn(R.Chaefer, xã hội học) Thiết chế xã hội Nói đến thiết chế ngƣời ta thƣờng hiểu theo hai nghĩa: một là thiết chế xã hội với một hệ thống các quy tắc, giá trị và cơ cấu hƣớng tới một mục đích xác định, hai 5 là các tổ chức xã hội với tƣ cách là các nhóm xã hội hiện thực rộng lớn, bao gồm các nguyên tắc, quy tắc và hệ thống thứ bậc của trách nhiệm và quyền lực.(nhập môn xã hội học, tr.195) Có 5 loại thiết chế cơ bản: gia đình, giáo dục, tôn giáo, kinh tế, nhà nƣớc. Sinh thái và Hệ sinh thái Sinh thái học là môn khoa học nghiên cứu về sự phân bố và sinh sống của những sinh vật sống và các tác động qua lại giữa các sinh vật và môi trƣờng sống của chúng. Môi trƣờng sống của một sinh vật hàm chứa: Tổng hòa các nhân tố vật lý nhƣ khí hậu và địa lý đƣợc gọi là ổ sinh thái Các sinh vật khác sinh sống trong cùng ổ sinh thái.
Các hệ sinh thái thƣờng đƣợc nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau từ cá thể và các quần thể cho đến các hệ sinh thái và sinh quyển. Sinh thái học là môn khoa học đa ngành, nghĩa là dựa trên nhiều ngành khoa học khác nhau. Các quy luật cơ bản của sinh thái học Quy luật tác động tổng hợp. Môi trƣờng bao gồm nhiều yếu tố có tác động qua lại, sự biến đổi các nhân tố này có thể dẫn đến sự thay đổi về lƣợng, có khi về chất của các yếu tố khác và sinh vật chịu ảnh hƣởng sự biến đổi đó.
Tất cả các yếu tố đều gắn bó chặt chẽ với nhau tạo thành một tổ hợp sinh thái. Ví dụ nhƣ chế độ chiếu sáng trong rừng thay đổi thì nhiệt độ, độ ẩm không khí và đất sẽ thay đổi và sẽ ảnh hƣởng đến hệ động vật không xƣơng sống và vi sinh vật đất, từ đó ảnh hƣởng đến chế độ dinh dƣỡng khoáng của thực vật. Mỗi nhân tố sinh thái chỉ có thể biểu hiện hoàn toàn tác động khi các nhân tố khác đang hoạt động đầy đủ. Ví dụ nhƣ trong đất có đủ muối khoáng nhƣng cây không sử dụng đƣợc khi độ ẩm không thích hợp; nƣớc và ánh sáng không thể có ảnh hƣớng tốt đến thực vật khi trong đất thiếu muối khoáng.
Qui luật giới hạn sinh thái Shelford (1911, 1972) Ảnh hƣởng của các yếu tố sinh thái lên sinh vật rất đa dạng, không chỉ phụ thuộc vào tính chất của các yếu tố sinh thái mà cả vào cƣờng độ của chúng. Đối với 6 mỗi yếu tố, sinh vật chỉ thích ứng với một giới hạn tác động nhất định, đặc biệt là các yếu tố sinh thái vô sinh. Sự tăng hay giảm cƣờng độ tác động của yếu tố ra ngoài giới hạn thích hợp của cơ thể sẽ làm giảm khả năng sống hoặc hoạt động. Khi cƣờng độ tác động tới ngƣỡng cao nhất hoặc thấp nhất so với khả năng chịu đựng của cơ thể thì sinh vật không tồn tại đƣợc.
Qui luật tác động không đồng đều của yếu tố sinh thái lên chức phận sống của cơ thể. Các yếu tố sinh thái có ảnh hƣởng khác nhau lên các chức phận sống của cơ thể, nó cực thuận đối với quá trình này nhƣng có hại hoặc nguy hiểm cho quá trình khác. Qui luật tác động qua lại giữa sinh vật và môi trường Trong mối quan hệ tƣơng hổ giữa quần thể, quần xã sinh vật với môi trƣờng, không những các yếu tố sinh thái của môi trƣờng tác động lên chúng, mà các sinh vật cũng có ảnh hƣởng đến các yếu tố sinh thái của môi trƣờng và có thể làm thay đổi tính chất của các yếu tố sinh thái đó. Quy luật tối thiểu Quy luật này đƣợc nhà hoá học ngƣời Đức Justus Von Liebig đề xuất năm 1840 trong công trình “Hoá học hữu cơ và sử dụng nó trong sinh lý học và nông nghiệp”.
Ông lƣu ý rằng năng suất mùa màng giảm hoặc tăng tỷ lệ thuận với sự giảm hay tăng các chất khoáng bón cho cây ở đồng ruộng. Nhƣ vậy, sự sinh sản của thực vật bị giới hạn bởi số lƣợng của muối khoáng. Liebig chỉ ra rằng “Mỗi một loài thực vật đòi hỏi một loại và một lƣợng muối dinh dƣỡng xác định, nếu lƣợng muối là tối thiểu thì sự tăng trƣởng của thực vật cũng chỉ đạt mức tối thiểu”.3 Đánh giá tác động môi trường. Đánh giá tác động môi trƣờng (ĐTM) - tiếng Anh là Environmental Impact Assessment (EIA) là một khái niệm mới ra đời trong mấy chục năm gần đây, lần đầu tiên ở Mỹ vào năm 1969 do sự đòi hỏi của dân chúng đối với chính phủ trƣớc tình trạng giảm sút chất lƣợng môi trƣờng sống của con ngƣời, hậu quả của việc 7 tăng nhanh các hoạt động phát triển khi nƣớc Mỹ đang bƣớc vào kỷ nguyên công nghiệp hoá.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về đánh giá tác động môi trƣờng. Mỗi định nghĩa tuy có nhấn mạnh những khía cạnh khác nhau nhƣng đều nêu lên những điểm chung của đánh giá tác động môi trƣờng là đánh giá, dự báo các tác động môi trƣờng và đề xuất các biện pháp giảm thiểu các tác động tiêu cực chủ yếu của dự án. Sau đây là một số định nghĩa của ĐTM. Theo Luật Bảo vệ Môi trƣờng 2005 thì: “Đánh giá tác động môi trƣờng là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trƣờng của dự án đầu tƣ cụ thể để đƣa ra các biện pháp bảo vệ môi trƣờng khi triển khai dự án đó”.Lê Thạc Cán, 1994, thì: ″ ĐTM của một hoạt động phát triển kinh tế xã hội là xác định, phân tích, dự báo những tác động lợi và hại, trƣớc mắt và lâu dài của việc thực hiện hoạt động đó đối với tài nguyên thiên nhiên và chất lƣợng môi trƣờng sống của con ngƣời.
Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp phòng tránh, khắc phục hoặc giảm nhẹ các tác động tiêu cực của dự án đối với môi trƣờng ”. Các định nghĩa trên đều nêu lên các nội dung chủ yếu mà đánh giá tác động môi trƣờng phải thực hiện.