Chương I: Tổng quan về lĩnh vực du lịch khách sạn tại Việt nam trong thời gian qua Chương II: 8 Khoá luận tốt nghiệp Bùi Thuý Hằng Tình hình triển khai các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực du lịch khách sạn tại Việt Nam hiện nay. Chương III: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả triển khai các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực du lịch khách sạn. Khoá luận đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích kinh tế, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích định lượng và định tính, phương pháp mô hình hoá. CHƯƠNG MỘT: TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC DU LỊCH KHÁCH SẠN TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA I- KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DU LỊCH KHÁCH SẠN: 1.
Khái niệm và đặc điểm cơ bản liên quan tới hoạt động kinh doanh du lịch khách sạn 1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan tới hoạt động kinh doanh du lịch khách sạn: Nền tảng cho sự ra đời của kinh doanh du lịch là kể từ khi có sự phân công lao động xã hội lần thứ II. Nhưng kinh doanh du lịch mới thực sự phát triển và trở thành một ngành đại chúng từ giữa thế kỷ XIX, khi những tiến bộ khoa học kỹ thuật được đưa vào phục vụ du lịch. Kinh doanh du lịch vốn là một ngành tổng hợp và phức tạp, vì vậy để có thể hiểu rõ khái niệm này, trước hết chúng ta phải tìm hiểu khái niệm về du lịch và khách du lịch. Tại Pháp lệnh du lịch của Việt nam (20/2/1999) đã quy định: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”; “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”.
9 Khoá luận tốt nghiệp Bùi Thuý Hằng Xuất phát từ cầu về du lịch của khách du lịch, chúng ta thấy rằng nhu cầu về du lịch rất phong phú và đa dạng, gồm rất nhiều thể loại từ thiết yếu đến đặc trưng và bổ sung, từ nhu cầu ăn ở, đi lại đến vui chơi, giải trí, nâng cao nhận thức. Điều này cho thấy, để có thể đáp ứng được các nhu cầu du lịch trên cần phải có một sản phẩm tổng hợp gồm đủ các yếu tố sao cho có thể đáp ứng được mọi khía cạnh của cầu du lịch. Sản phẩm tổng hợp đó cũng đòi hỏi ngành sản xuất ra nó phải là một ngành tổng hợp hay nói cách khác, kinh doanh du lịch cũng phải được hiểu là một hoạt động tổng hợp. Với cách hiểu như vậy, chúng ta có thể định nghĩa: “Kinh doanh du lịch là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình hoạt động du lịch hoặc thực hiện dịch vụ du lịch trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.
Lợi ích thu được trong khái niệm này được hiểu là lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội thiết thực cho quốc gia có hoạt động du lịch và bản thân doanh nghiệp kinh doanh du lịch. Các hoạt động kinh doanh du lịch bao gồm: - Kinh doanh lữ hành. Lữ hành là việc thực hiện chuyến du lịch theo kế hoạch, lộ trình, chương trình định trước. Kinh doanh lữ hành là ngành xương sống trong kinh doanh du lịch, nó tìm kiếm nguồn khách, sản xuất các chương trình du lịch và tổ chức thực hiện các chương trình đó.
Nó phục vụ nhu cầu du lịch, đây chính là nhu cầu đặc trưng của khách du lịch. - Kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch: Cơ sở lưu trú du lịch là cơ sở kinh doanh buồng, giường và các dịch vụ khác phục vụ khách du lịch. Cơ sở lưu trú du lịch bao gồm khách sạn, làng du lịch, biệt thự, căn hộ, lều bãi cắm trại cho thuê, trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu. 10 Khoá luận tốt nghiệp Bùi Thuý Hằng Kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch nhằm phục vụ nhu cầu ăn uống nghỉ ngơi của khách du lịch.
Loại hình kinh doanh này không phục vụ nhu cầu đặc trưng của khách du lịch trong quá trình đi du lịch(nhu cầu du lịch) mà phục vụ nhu cầu thiết yếu của khách trong quá trình này. - Kinh doanh vận chuyển khách du lịch: là loại hình kinh doanh bao gồm vận chuyển bằng máy bay, tàu hoả, tàu thuỷ, ô tô, cáp vận chuyển,. và các phương tiện truyền thống như voi, lạc đà, xe ngựa, xe đạp, xích lô. Hoạt động kinh doanh này thường là vận chuyển khách theo một chương trình nhất định.
- Kinh doanh các dịch vụ du lịch khác: bao gồm các hoạt động kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu bổ sung của khách như kinh doanh các khu vui chơi giải trí, các hoạt động thể thao và các hoạt động kinh doanh khác như giặt là quần áo, mua vé tàu xe, máy bay, tổ chức hội thảo, cho thuê phiên dịch,. Kinh doanh các dịch vụ bổ sung là loại hình kinh doanh không thể thống kê một cách đầy đủ bởi nhu cầu của khách du lịch luôn thay đổi và nảy sinh. Trong các hoạt động kinh doanh du lịch, du lịch lữ hành luôn đóng vai trò then chốt và có ảnh hưởng lớn tới mọi hoạt động kinh doanh du lịch khác. Du lịch có phát triển mạnh hay không phụ thuộc rất lớn vào hoạt động của hệ thống các công ty du lịch lữ hành.2 Đặc điểm của ngành du lịch khách sạn: Các đặc điểm của hoạt động kinh doanh du lịch được thể hiện thông qua đặc điểm của sản phẩm du lịch và đặc điểm của thị trường du lịch, vì đây là hai yếu tố quan trọng có vai trò quyết định đối với hoạt động kinh doanh du lịch khách sạn.1 Đặc điểm của sản phẩm du lịch: Sản phẩm du lịch là tập hợp các hàng hoá, dịch vụ do các nhà cung cấp đưa ra nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch.
Sản phẩm du lịch có những nét đặc thù sau: 11 Khoá luận tốt nghiệp Bùi Thuý Hằng - Sản phẩm du lịch thường gắn với tài nguyên du lịch và cố định tại một nơi nào đó vì vậy muốn tiêu dùng sản phẩm, du khách phải tìm đến nơi có sản phẩm đó. - Do sản phẩm du lịch chủ bao gồm dịch vụ (như lưu trú, vui chơi giải trí.) mà các dịch vụ này là không cụ thể nên khách hàng không thể kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi mua. - Sản phẩm du lịch phần lớn là dịch vụ nên không thể lưu kho, lưu bãi do thời gian sản xuất trùng với thời gian tiêu dùng. - Sản phẩm du lịch thường ở xa nơi khách hàng thường trú, do đó cần đến một hệ thống kênh phân phối đặc biệt như: các hãng lữ hành, đại lý trung gian,.
- Sản phẩm du lịch mang tính tổng hợp, nó đòi hỏi cần có nhiều hoạt động kinh doanh đơn lẻ cùng phối hợp để tạo ra sản phẩm đầy đủ như kinh doanh lưu trú, ăn uống, vận chuyển lữ hành và các dịch vụ khác nữa. - Sản phẩm du lịch mang tính thời vụ.2 Đặc điểm của thị trường du lịch: Thị trường du lịch là một bộ phận cấu thành đặc biệt của thị trường hàng hoá, bao gồm toàn bộ những mối quan hệ và cơ chế kinh tế có liên quan tới địa điểm, thời gian, điều kiện và phạm vi thực hiện dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội về du lịch. Một cách cụ thể hơn thì thị trường du lịch là lĩnh vực cụ thể trong lưu thông hàng hoá, dịch vụ du lịch, là tổng hợp các điều kiện thực hiện các sản phẩm hàng hoá đó về kinh tế (gồm các yếu tố như cung cầu, giá cả .), kỹ thuật (như trang thiết bị, phương tiện phục vụ du lịch .) và tâm lý xã hội (gồm các yếu tố như tâm lý du khách, phong tục tập quán, sở thích hay mức độ thoả mãn. Mỗi yếu tố đều có vai trò, tầm quan trọng riêng trong việc cấu thành nên thị trường du lịch.
Thị trường du lịch mang tính độc lập tương đối so với các thị trường hàng hoá nói chung vì nó thực hiện dịch vụ, hàng hoá của ngành du lịch. Thị trường du lịch có những đặc điểm chính sau: 12 Khoá luận tốt nghiệp Bùi Thuý Hằng - Do đặc điểm của sản phẩm du lịch là được tiêu dùng tại nơi sản xuất nên trên thị trường du lịch không có sự dịch chuyển của khối lượng hàng hoá trên thị trường. - Do nhu cầu du lịch chủ yếu là tham quan, tìm hiểu, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí còn nhu cầu về mua bán hàng hoá chỉ là phụ nên cung cầu trên thị trường du lịch chủ yếu là đối với các sản phẩm dịch vụ còn hàng hoá chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ. - Trên thị trường du lịch, trong khoảng thời gian ngắn cung gần như không thay đổi trong khi cầu luôn biến động do nhu cầu về du lịch phụ thuộc vào các yếu tố như: thời tiết, động cơ đi du lịch, mốt,.
mà các yếu tố này thường hay thay đổi và trong nhiều trường hợp có thể có những biến đổi đột ngột khó dự báo trước. Trên đây là những đặc điểm cơ bản của hoạt động du lịch khách sạn, tuy nhiên ngoài những đặc điểm chung nêu trên, hoạt động kinh doanh khách sạn có một số đặc điểm riêng rất quan trọng không thể bỏ qua. Đó là: - Kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung lượng vốn lớn đặc biệt là trong đó tỷ trọng vốn cố định ở mức cao do chi phí ban đầu để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của một khách sạn là rất lớn để đảm bảo đáp ứng được các tiêu chuẩn về phục vụ khách sạn. Mặt khác, do hoạt động kinh doanh khách sạn mang tính thời vụ cao và các cơ sở vật chất, trang thiết bị của khách sạn luôn luôn đòi hỏi phải hiện đại, sang trọng, tiện nghi nên luôn luôn đòi hỏi lượng chi phí lớn cho công tác vận hành, bảo quản và nâng cấp một cách thường xuyên.
- Hoạt động kinh doanh khách sạn sử dụng nhiều lao động sống với nhiều ngành nghề khác nhau chủ yêú là hoạt động phục vụ, cung cấp dịch vụ. - Trong hoạt động kinh doanh khách sạn có sự biệt lập tương đối lớn của hoạt động kinh doanh nói chung và của từng dịch vụ nói riêng cho kinh doanh khách sạn là tổng hợp của nhiều ngành khách nhau. - Phải có tính sẵn sàng phục vụ khách ở mọi thời điểm.