MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Tri thức của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) là một trong những thành tố quan trọng của văn hóa tộc người góp phần làm nên bản sắc tộc người. Nó có thể coi là tài sản của mỗi tộc người trong lịch sử phát triển, phản ánh mối quan hệ của từng cộng đồng đối với môi trường tự nhiên và xã hội. Chăm sóc sức khỏe cộng đồng không chỉ là vấn đề mang tính thời sự mà còn có ý nghĩa chiến lược phát triển trong bối cảnh nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Tri thức của đồng bào DTTS về y học cổ truyền (YHCT) trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng không chỉ đơn thuần là những tri thức về việc sử dụng cây cỏ để làm thức ăn nước uống hàng ngày mà nó còn là quan niệm của người dân địa phương trong việc sử dụng cây cỏ, nguồn dược liệu làm thuốc phòng bệnh và chữa bệnh. Hai yếu tố này tạo thành bản sắc văn hóa tộc người của mỗi cộng đồng dân tộc. Việt Nam có một nền YHCT lâu đời và được đánh giá là có tiềm năng to lớn. Cội nguồn của nền YHCT Việt Nam là những kinh nghiệm dân gian hình thành do kết quả đấu tranh sinh tồn giữa con người với những tác nhân gây bệnh, được lưu truyền và liên tục được bổ sung bởi kinh nghiệm của các thế hệ, để ngày một hoàn thiện và khoa học hơn, góp phần đáng kể trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân.
Tuy nhiên từ những năm 1990, sự chuyển đổi cơ chế kinh tế từ tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, bên cạnh những cải thiện lớn mà cơ chế này mang lại cho sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ, đã xuất hiện nhiều khó khăn do không thích ứng được với cơ chế mới, trong đó YHCT đã bị thu hẹp đáng kể. Để thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về YHCT, đồng thời để khắc phục những tồn tại TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trên, Bộ Y tế tiếp tục khẳng định đường lối phát triển YHCT trong chăm sóc sức khoẻ là: "Phát triển sử dụng thuốc nam và các phương pháp không dùng thuốc của YHCT tại cộng đồng vẫn là mục tiêu chiến lược của ngành Y tế trong những thập kỷ tới để bảo đảm sức khoẻ cho nhân dân"1. Gần đây Đảng, Chính phủ đã ban hành một số văn bản quan trọng để đẩy mạnh công tác YHCT trong chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân đó là: Ngày 3/11/2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 222/2003/QĐ-TTg về việc phê duyệt chính sách Quốc gia về YDHCT đến năm 2010; Ngày 23/02/2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 46-NQ/TW về công tác bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới; Chỉ thị số 05/2007/CT-BYT ngày 9/11/2007 của Bộ Y tế về tăng cường công tác y dược học cổ truyền; Chỉ thị số 24-CT/TW ngày 04/7/2008 của Ban bí thư TW Đảng về phát triển nền Đông y Việt Nam và Hội Đông Y Việt Nam trong tình hình mới; Hướng dẫn số 48-HD/BTGTW ngày 12/8/2008 của Ban Tuyên giáo TW về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 24-CT/TW ngày 04/7/2008 của Ban bí thư TW Đảng; Quyết định số 2166/QĐ-TTg ngày 30/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ về phát triển nền y, dược cổ truyền Việt Nam đến năm 2020. Trên thực tế, việc triển khai những chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và ngành y tế về phát triển YHCT vẫn gặp rất nhiều khó khăn đặc biệt là ở khu vực miền núi vùng đồng bào dân tộc.
Việc củng cố và phát triển 1 Chỉ thị 03/BYT-CT ngày 01/3/1996 của Bộ trưởng Bộ Y tế TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các biện pháp phòng và chữa bệnh bằng sử dụng các phương pháp YHCT ở khu vực miền núi vùng đồng bào dân tộc có ý nghĩa to lớn không chỉ ở chỗ nó góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại cơ sở, mà còn tận dụng được các cây thuốc thảo dược quý trong không gian cư trú và sản xuất giúp giảm bớt chi phí khám chữa bệnh cho những người dân nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi để người dân có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe. Việc phát triển YHCT góp phần huy động sự đóng góp của một lực lượng đông đảo những người hành nghề YHCT, tăng tính công bằng, hiệu quả, chất lượng và tính bền vững của hệ thống y tế cơ sở. Một trong những khó khăn lớn trong việc phát triển YHCT ở nước ta hiện nay là tri thức, nhất là ở đồng bào dân tộc thiểu số một mặt còn lưu giữ khá nhiều dưới dạng bất thành văn mặt khác với tâm lý độc quyền cũng là cản trở đáng kể. Nếu không được sưu tầm, lưu giữ dưới dạng văn bản thì các tri thức quý giá đó có nguy cơ bị thất truyền.
Do đó, việc nghiên cứu, bảo tồn tri thức về YHCT trong phòng bệnh và chữa bệnh ở đồng bào DTTS vừa cần thiết vừa mang tính thời sự, không chỉ góp phần bảo tồn tri thức văn hóa dân tộc mà còn thúc đẩy sự phối kết hợp giữa y học hiện đại (YHHĐ) và YHCT trong công tác y tế ở nước ta hiện nay. Dưới góc độ nghiên cứu xã hội học thì những nghiên cứu về xã hội học tộc người (Ethnic Sociology) nói chung và xã hội học về y tế tộc người nói riêng chưa nhiều. Sự cần thiết phải nghiên cứu vấn đề này ở nước ta trở nên thiết thực hơn bao giờ hết khi đặt trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Bởi lẽ, với 54 dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trong công cuộc xây dựng đất nước nước vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, đặc biệt trong xu thế hội nhập với thế giới như hiện nay thì “tài nguyên” con người Việt Nam cần được phát huy hơn nữa trên tất cả các phương diện trí tuệ, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phẩm chất chính trị, đủ sức khoẻ nhằm tiến tới thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.
Song song với việc sử dụng nguồn nhân lực, việc tăng cường bồi dưỡng và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân là một việc làm có ý nghĩa quyết định. Vì vậy, đảm bảo sức khoẻ cho cộng đồng không chỉ là mục tiêu của tổ chức y thế thế giới, mà còn là mục tiêu tổng quát, mục tiêu chiến lược của từng quốc gia và là thước đo của một xã hội văn minh. Đề tài luận văn “Tri thức của đồng bào dân tộc thiểu số về y học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng” được hình thành khi tác giả công tác và tham gia nghiên cứu đề tài “Những biện pháp bảo tồn và phát triển Y học cổ truyền của một số dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam” do Trung tâm nghiên cứu Sức khỏe cộng đồng thuộc Viện Dân tộc học, Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Việt Nam thực hiện. Trong luận văn này, học viên nghiên cứu về tri thức của đồng bào DTTS về YHCT trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng dưới góc độ xã hội học tộc người nhằm tìm hiểu quan niệm của đồng bào DTTS về bệnh tật, các cách phòng và chữa bệnh bằng YHCT cũng như các nghi lễ trao truyền và bảo tồn các giá trị của tri thức về YHCT.
Nó không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có giá trị thực tiễn góp phần thực hiện thành công chiến lược chăm sóc sức khỏe nhân dân theo chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Nghiên cứu ngoài nước Các nghiên cứu tình hình YHCT ở nước ngoài cho thấy một trong các quốc gia tiêu biểu có hệ thống YHCT phát triển cao phải kể tới là Trung Quốc, nơi có nền YHCT lâu đời và có ảnh hưởng sâu sắc tới nền YHCT của nhiều quốc gia khác như Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và Việt Nam, v. Ngày nay, vấn đề kết hợp YHCT với YHHĐ là một trong những chủ trương chính TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sách của Trung Quốc, trong đó các thầy thuốc tây y được đào tạo thêm về YHCT, các thầy lang cổ truyền được đào tạo thêm về YHHĐ, họ được tham gia các chương trình y tế của Nhà nước và được công nhận một cách chính thức.522 bệnh viện YHCT với 353.373 nhân viên y tế và 236.060 giường bệnh. Những bệnh viện này đã điều trị 200 triệu bệnh nhân ngoại trú và 3 triệu bệnh nhân nội trú mỗi năm; đồng thời 95% bệnh viện ở Trung Quốc đều có khoa YHCT.
Năm 2005, YHCT Trung Quốc đã được hơn 120 quốc gia và khu vực trên thế giới chấp nhận, ví dụ ở Anh có hơn 3.000 bệnh viện thực hành về YHCT Trung Quốc, khoảng 2,5 triệu người Anh đã chi tổng số 90 triệu bảng Anh hàng năm để được điều trị bằng YHCT Trung Quốc; ở Pháp có 2.600 các bệnh viện thực hành về YHCT Trung Quốc với 7.000 cán bộ châm cứu; ít nhất 40 nước đã mở trường học về châm cứu; trên 50 hợp đồng y học trong đó có hợp tác về YHCT được ký giữa Trung Quốc với các nước khác. YHCT của Trung Quốc nói chung đã giành được vị thế hợp pháp ở nhiều nước như Singapo, Malaisia và Inđônesia, v. Tại Trung Quốc, có hơn 3.000 xí nghiệp đang tham gia vào các hoạt động về YHCT. Năm 2004, công nghiệp thuốc cổ truyền Trung Quốc đã thu được 90 tỷ NDT (tương đương 11,1 tỷ USD), tổng giá trị sản lượng chiếm 26% toàn bộ khu vực dược phẩm Trung Quốc2.
Nền YHCT của Nhật Bản có lịch sử trên 1. Nước này được xem là có tỷ lệ người sử dụng YHCT cao nhất thế giới hiện nay. Thuốc cổ truyền Nhật Bản là sự kết hợp giữa thuốc cổ truyền Trung Quốc và thuốc dân gian Nhật Bản gọi chung là Kampo. Tính từ năm 1974 đến 1989, việc sử dụng các loại thuốc YHCT ở Nhật Bản đã tăng 15 lần trong khi đó các loại tân dược chỉ tăng 2,6 lần.
Ít nhất 65% bác sĩ ở Nhật đã khẳng định rằng họ đã sử 2 Vũ Tuệ Anh (2005), “Y học cổ truyền Trung Quốc thu hút được sự ưa thích trên toàn thế giới”, Bản tin dược liệu số 12 tập IV, tr. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dụng phối hợp đồng thời thuốc YHCT và thuốc YHHĐ.