Chương 1 NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN NGÔN NGỮ HỌC VÀ TỔNG QUAN VỀ CÂU ĐỐ CỦA NGƯỜI VIỆT 1. Những cơ sở lý luận ngôn ngữ học 1. Tính võ đoán của ngôn ngữ Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội loài người. Hệ thống tín hiệu ngôn ngữ có những đặc tính hay bản chất riêng khiến nó có một đẳng cấp vượt trội, không giống với bất cứ hệ thống vật chất nào khác không phải là tín hiệu.
Một trong những bản chất quan trọng của tín hiệu ngôn ngữ là tính võ đoán của nó. Theo Ferdinand de Saussure: “Mối tương quan giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện là võ đoán, hoặc nói rõ thêm, vì chúng ta quan niệm tín hiệu là cái tổng thể do sự kết hợp giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện mà thành, có thể phát biểu một cách giản đơn: tín hiệu ngôn ngữ là võ đoán.” Chẳng hạn, ý niệm “hoa” không có mối tương quan bên trong nào với cái tổ hợp âm “H-O-A” được dùng làm cái biểu hiện cho nó. Chính vì thế mà ở các ngôn ngữ khác nhau thì ý niệm này cũng được biểu hiện khác nhau và nó hoàn toàn do sự quy ước hay là do thói quen của tập thể quy định chứ không thể giải thích lý do. Vì hiện thực của đời sống là đa dạng và vô cùng phong phú nên mối liên hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện ở các từ và các yếu tố ngôn ngữ khác cần thiết phải được trừu tượng hoá đến mức là võ đoán.
Chính nhờ tính võ đoán này mà các kí hiệu ngôn ngữ có thể được sắp xếp theo các trục dọc (hệ hình) khác 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ nhau của hình thức để tạo nên tính hệ thống của ngôn ngữ. Cũng nhờ tính võ đoán mà ngôn ngữ có tính hình thức. Tuy nhiên, ở đây có sự phân biệt giữa từ đơn và từ ghép. Tiếng Việt cũng vậy, ở các từ đơn, mối tương quan giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện cơ bản là võ đoán, điều này không còn gì để bàn cãi.
Tuy nhiên, đối với từ ghép thì khác, mối tương quan giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện không hoàn toàn là võ đoán nữa. Quay trở lại ví dụ ở trên, ý niệm “hoa” và cái tổ hợp âm “H-O-A” được dùng làm cái biểu hiện cho nó không có mối tương quan bên trong nào, hay nói cách khác nó là võ đoán. Tuy nhiên, bên cạnh từ đơn “hoa”, chúng ta có các từ ghép như “hoa giấy”, “hoa hồng”, “hoa hồng bạch”, “hoa hồng nhung”, “hoa sữa”, “hoa đào”,… Ở đây, cái biểu hiện và cái được biểu hiện không phải là không có mối tương quan nào nữa. Chẳng hạn, có thể giải thích về mối tương quan giữa ý niệm “hoa giấy” và tổ hợp âm “H-O-A” “G-I-A-Y” được dùng làm cái biểu hiện cho nó là: 1.
Cánh hoa của nó mỏng như giấy nên người ta gọi là hoa giấy; 2. Cánh hoa của nó được làm bằng giấy nên được gọi là hoa giấy. Hay ta có thể giải thích cái tên gọi “hoa hồng” đơn giản là bởi người ta chọn đặc trưng màu sắc của nó để gọi tên. Rồi người ta thấy loài hoa này còn có nhiều màu sắc khác như trắng, vàng, xanh,… nhưng người ta vẫn gọi là hoa hồng bạch, hoa hồng vàng, hoa hồng xanh,… Về tính võ đoán của ngôn ngữ, đến nay có nhiều ý kiến khác nhau.
Nguyễn Đức Tồn trong bài viết “ Từ đặc trưng dân tộc của định danh nhìn nhận lại nguyên lí võ đoán của kí hiệu ngôn ngữ” đăng trên tạp chí Ngôn ngữ số 4 năm 1997 cho rằng, “tất cả mọi kí hiệu ngôn ngữ đều có lí do, chứ không phải là võ đoán. Lí do ấy có thể là lí do khách quan, khi tên gọi dựa trên đặc trưng nằm trong chính bản thân đối tượng được gọi tên. Khi đó, tên gọi phản ánh bản chất hoặc một phần bản chất của đối tượng. Thuyết phúsei về tên gọi có lí ở mảng này.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ Mặt khác, lí do của tên gọi có thể là lí do chủ quan (không nằm trong bản thân đối tượng, mà nằm ở chủ thể định danh), khi đó, tên gọi không phản ánh bản chất của sự vật được gọi tên. Lí do định danh chủ quan thường có ở các tên riêng.” Ở đây, chúng tôi không có ý định bàn luận về vấn đề này mà chỉ muốn nói đến khía cạnh mỗi ngôn ngữ đều có những đặc trưng rất riêng trong cách định danh sự vật và chúng tôi muốn tìm hiểu những nét đặc trưng riêng đó trong định danh ở câu đố của người Việt. Hình thái bên trong của ngôn ngữ Wilhelm von Humboldt, nhà ngôn ngữ học người Đức, đã có những đóng góp lớn cho ngành ngôn ngữ học và những tư tưởng lớn của ông xoay quanh ba vấn đề chính như sau: - Ngôn ngữ không phải là một "công trình" đã hoàn thành và bất di bất dịch, mà là một hoạt động đang diễn ra. Trí tuệ làm việc không ngừng để thích ứng âm thanh, chất liệu ngữ âm, với sự thể hiện của tư duy.
Chính hình thức ngôn ngữ, với những quy tắc hình thái và cú pháp, cho phép và nâng đỡ "lao động đó của tư duy". - Ngôn ngữ chẳng những là một phương tiện giao tiếp mà còn là sự phản chiếu trí tuệ con người, cũng như nghệ thuật và khoa học. "Ngôn ngữ là sự thể hiện hình thức mà qua đấy cá nhân nhìn nhận thế giới, và chuyển nó vào nội tâm của mình". - Về phương diện xã hội, mỗi ngôn ngữ phản ánh những cách tư duy của dân tộc dùng nó, đồng thời cũng tác động đến tư duy đó.
Ngôn ngữ tổ chức và hướng dẫn thế giới quan của người nói. Thế giới quan ấy làm thành "hình thái bên trong” của ngôn ngữ, trong lúc "hình thái bên ngoài" là cấu trúc ngữ âm, ngữ pháp, v. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ Trong định danh, khi nói đến “hình thái bên trong” của ngôn ngữ, tức là người ta có ý nói đến việc lựa chọn những đặc điểm, thuộc tính nào của sự vật để gọi tên cho nó. Trong định danh của câu đố người Việt, việc lựa chọn đặc điểm, thuộc tính nào của sự vật, hiện tượng để mô tả ở lời đố cũng thể hiện “hình thái bên trong” của ngôn ngữ, cũng như đặc điểm tư duy của dân tộc hay cách thức tri nhận thế giới của người Việt.
Bức tranh ngôn ngữ về thế giới Trong “Ngôn ngữ học tri nhận” của Lý Toàn Thắng, bình diện nội dung của ngôn ngữ đã được đề cập đến với những luận điểm đáng chú ý như sau: - Các ngôn ngữ tự nhiên đều có những cách thức riêng trong việc tổ chức các tài liệu ngữ nghĩa. - Trong ngữ nghĩa của mỗi ngôn ngữ đều có phản ánh một cách hình dung về thực tại khách quan của cộng đồng văn hoá - bản ngữ đó, thường được gọi là “mô hình thế giới”, hay “bức tranh thế giới”, “hình ảnh thế giới” và “biểu tượng về thế giới”. - Mỗi mô hình như thế, ngoài cái chung, cái phổ quát, có cái riêng, cái đặc thù, ứng với từng ngôn ngữ và phản ánh một cách tri giác, một cách nhận thức về thế giới của dân tộc ấy (không giống với dân tộc khác), được gọi là “cách nhìn thế giới”. “Bức tranh thế giới” là hạt nhân hay là thành tố cơ sở của thế giới quan con người.
Trong các ngôn ngữ, bức tranh này có thể biến đổi; mỗi bức tranh ngôn ngữ đều liên quan đến một “lôgich” nhìn nhận thế giới, hay nói đúng hơn, với một cách thức tri giác và nhận thức thế giới của người bản ngữ. Định danh ngôn ngữ Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (chủ biên), “định danh” được định nghĩa như sau: Gọi tên sự vật, hiện tượng (nói về một chức năng của từ ngữ). 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ Trong ngôn ngữ học, thuật ngữ này được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Theo quan niệm của G.
Kolshanskii, định danh là “sự cố định (hay gắn) cho một kí hiệu ngôn ngữ một khái niệm - biểu niệm (signifikat) phản ánh những đặc trưng nhất định của một biểu vật (denotat) – các thuộc tính, phẩm chất và quan hệ của các đối tượng và quá trình thuộc phạm vi vật chất và tinh thần, nhờ đó các đơn vị ngôn ngữ tạo thành những yếu tố nội dung của giao tiếp ngôn từ”. Đồng thời, ông cũng cho rằng: “Bất kì kí hiệu ngôn ngữ nào cũng biểu thị những thuộc tính đã được trừu tượng hoá của các sự vật cụ thể, và do vậy, bao giờ cũng được gắn với một lớp đối tượng hay với một hiện tượng v. 1 Vấn đề định danh trong câu đố cũng không nằm ngoài nội dung này. Có điều, vì câu đố là một chuỗi những câu văn vần mô tả về một sự vật, hiện tượng nào đó chứ không chỉ là một từ, cho nên phạm vi biểu đạt của nó rộng hơn.
Người ta không chỉ nhìn vào các đặc điểm, thuộc tính của sự vật mà còn nhìn vào các mối tương quan của nó với môi trường xung quanh và với con người…. *** Tiếp thu những ý tưởng của Saussure và Humboldt cùng với những luận điểm về “bức tranh ngôn ngữ về thế giới” của Lý Toàn Thắng, chúng tôi đã áp dụng vào việc nghiên cứu và tìm hiểu cách thức định danh và đặc điểm tư duy liên tưởng trong câu đố của người Việt. Cụ thể là, trong định danh, người Việt thường lấy những đặc điểm, thuộc tính gì của sự vật, hiện tượng để gọi tên sự vật; còn trong tư duy liên tưởng, người Việt thường liên tưởng, so sánh sự vật, hiện tượng được đố với cái gì và chúng có sự liên quan với nhau như thế nào. Đó chính là cách thức tri nhận, cách nhìn thế giới của người Việt trong câu đố.
Qua đây, chúng ta 1 Dẫn theo Nguyễn Đức Tồn trong cuốn “Đặc trưng văn hoá - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt”, Nxb Đại học QGHN, 2002 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ cũng có thể thấy được phần nào cuộc sống và các mối quan hệ xã hội, các quan niệm dân gian cũng như các đặc điểm tâm lý, tính cách của người Việt xưa.