CHƯƠNG 1: TRÁI ĐẤT TRONG HỆ MẶT TRỜI 1. Vị trí, hình dạng, kích thước, cấu tạo vật chất của Trái đất 1. Vị trí Trái đất trong vũ trụ 1. Vũ trụ Vũ trụ là khoảng không gian vô tận chứa các thiên hà.
Mỗi thiên hà chứa hàng trăm tỉ ngôi sao và các thiên thể khác cùng với khí, bụi, bức xạ điện từ trường. Một số thuyết về nguồn gốc vũ trụ - Thalet (thế kỉ VII- VI TCN) cho rằng nước là nguyên tố cơ bản của vũ trụ, nước luôn vận động nhưng không thay đổi và hoà tan mọi vật. Vì vậy, nước là nguồn gốc của vũ trụ. - Theo Aristot (384- 322 TCN), vũ trụ được tạo nên bởi sự vận động của đất, nước, lửa, khí.
Trái đất là trung tâm của vũ trụ. - Người Trung Quốc, theo thuyết ngũ hành; vũ trụ được cấu tạo bởi các yếu tố: kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ. - Thuyết Big bang “Vụ nổ lớn” ( G. Maitre): Theo thuyết Big Bang, vũ trụ bắt đầu rất nhỏ, đặc và nóng, chỉ có ánh sáng và các hạt cơ bản, đây là những thành phần cơ bản của hạt nhân nguyên tử.
Trong vũ trụ ban đầu, ánh sáng tồn tại dưới dạng những tia gamma, không nhìn thấy được bằng mắt thường nhưng có khả năng xuyên qua mọi vật thể. Các hạt cơ bản được tạo ra từ những tia gamma, mỗi khi tia gamma tạo ra hạt cơ bản đồng thời tạo ra một phản hạt có điện tích trái dấu với hạt cơ bản. Khi phản hạt và hạt cơ bản gặp nhau lại tạo ra tia gamma. Khi quan sát các thiên hà, các nhà thiên văn nhận thấy các thiên hà ngày càng cách xa chúng ta và cách xa nhau; toàn bộ không gian vũ trụ được lấp đầy bởi bức xạ vô tuyến nhiệt độ cao, từ đó các nhà khoa học đưa ra mô hình lý thuyết vũ trụ chúng ta sinh ra từ một “vụ nổ lớn” (Big Bang).
Vụ nổ lớn xảy ra cách đây 13-15 tỷ năm, cùng lúc các hạt vật chất tách ra khỏi nhau kèm theo một lượng nhiệt rất lớn, khoảng 100 tỷ độ và giảm nhanh theo thời gian: giảm xuống 30 tỷ độ sau 1/10 giây, 10 tỷ độ sau 1 giây… đủ để các hạt notron và proton liên kết thành các hạt nhân hydro. Nhiệt độ tiếp tục giảm xuống sau vài ngàn năm, đủ thấp để các nguyên tử hydro và heli tích tụ thành các đám khí, rồi do lực hấp dẫn tích tụ dần thành các ngôi sao và thiên hà. Không gian tiếp tục giãn nở. 2 Vũ trụ sinh ra từ vụ nổ lớn được nhiều nhà khoa học chấp nhận, nhưng vũ trụ kết thúc như thế nào thì chưa thống nhất: - Thuyết Vũ trụ mở cho rằng vũ trụ giãn nở mãi cho đến khi mật độ khối lượng vũ trụ dưới 3 nguyên tử/m3, các thiên hà, siêu thiên hà trở thành các hố đen và cuối cùng các hố đen biến mất cùng lúc vũ trụ không còn tồn tại.
- Thuyết Vũ trụ đóng cho rằng sau khi giãn nở khoảng 40 tỷ năm, khi mật độ khối lượng vũ trụ dưới 6 nguyên tử/m 3, lúc đó lực hấp dẫn cân bằng với lực giãn nở và lớn hơn để kéo các thiên hà lại gần nhau, quá trình này xảy ra trong vòng 100 tỷ năm để vũ trụ trở lại trạng thái ban đầu của vụ nổ lớn. Sau đó tiếp tục giãn nở theo vòng tuần hoàn kéo dài khoảng 150 tỷ năm. Như vậy, theo thuyết Big Bang, 13-15 tỷ năm trước, sau một thời gian vũ trụ lạnh đi và các nguyên tử được hình thành (hydrogen 98%, helium 2%) và chúng tập hợp thành tinh vân do lực hấp dẫn. Tinh vân được cấu tạo chủ yếu bằng hydrogen (nguyên tố nhẹ nhất).
Sơ đồ lý thuyết Big Bang * Những ngôi sao đầu tiên được hình thành: - Tinh vân kết tụ thành ngôi sao nguyên thủy, áp suất và nhiệt độ tăng. + Nhiệt độ tăng, ngôi sao nguyên thủy bắt đầu nóng chảy. Hydrogen + Hydrogen => Helium + năng lượng. 3 (Khi nóng chảy một phần khối lượng chuyển thành năng lượng: E = mc 2 (E: năng lượng, m: khối lượng, c: tốc độ ánh sáng trong chân không (c~3.
Công thức này có nghĩa là một hạt có khối lượng m bất kì đều có năng lượng là: mc 2). - Các ngôi sao lớn có thể bị nổ tung sau khi các nguyên tố bị nóng chảy hoàn toàn. - Các nguyên tố nặng hơn sắt được hình thành trong quá trình xảy ra vụ nổ lớn. - Những nguyên tố mới được hình thành tạo ra đám tinh vân mới.
Những ngôi sao mới được hình thành từ những đám tinh vân này, chẳng hạn như Mặt trời. Đám mây khí trong vũ trụ. Tinh vân được cấu tạo chủ yếu bằng hydrogen * Các giả thuyết về nguồn gốc hệ Mặt trời: - Giả thuyết Kant - Laplace: Năm 1755, Kant (nhà triết học người Đức thế kỷ XVIII) cho ra đời cuốn sách “Lịch sử tự nhiên và thuyết về bầu trời” đã nêu giả thuyết: hệ Mặt trời được hình thành từ đám tinh vân (bụi vũ trụ) chuyển động hỗn loạn; do lực hấp dẫn vũ trụ, bụi vũ trụ chuyển động và tích tụ thành hệ Mặt trời. Trên cơ sở giả thuyết của Kant, năm 1796 Laplace (nhà Toán học và Thiên văn học người Pháp) xây dựng giả thuyết về nguồn gốc hệ Mặt trời.
Theo Laplace hệ Mặt trời được hình thành từ tinh vân vũ trụ khổng lồ có nhiệt độ cao và quay quanh trục. Khi nguội tinh vân giảm thể tích, dẹt lại và quay nhanh hơn (định luật bảo toàn động lượng). Vật chất xa trục lực ly tâm sẽ lớn, khi lực ly tâm thắng lực hấp dẫn, vật chất sẽ tách ra tiếp tục quay hình thành các hành tinh vệ tinh và tiểu hành tinh, vật chất còn lại ở giữa hình thành Mặt trời. - Giả thuyết Otto Smith: Năm 1950 nhà khoa học Liên Xô cũ đưa ra giả thuyết mới về nguồn gốc hệ Mặt trời.
Theo giả thuyết này, Mặt trời chuyển động quanh tâm thiên hà và gặp đám tinh vân (bụi khí vũ trụ) ban đầu lạnh, quay tương đối chậm. Trong quá trình vận động các hạt bụi va chạm lẫn nhau làm cho động năng chuyển thành nhiệt năng, kết quả là các 4 hạt bụi nóng lên và dính kết vào nhau, khối lượng của đám tinh vân giảm, vận tốc tăng và sự chuyển động đi vào trật tự, đám tinh vân có hình dẹt với các vành xoắn ốc. Các vành bên ngoài kết tụ lại do lực hấp dẫn hình thành các hành tinh. Do tác dụng của bức xạ nhiệt, vật chất của các hành tinh bên trong có khối lượng nhỏ nhưng trọng lượng lớn và ngược lại.
- Giả thuyết Tinh vân: Trong những năm gần đây, nhờ những thành tựu của Thiên văn học, nhất là hệ thống kính thiên văn vũ trụ Huble, kính thiên văn khổng lồ VLT ở Chilê, kính thiên văn vô tuyến Arecibo ở Pooctô Ricô, chụp được quá trình hình thành hệ thống sao Beeta Pictoris, Fomalhaut, HR 4796A và Vega. Từ kết quả phân tích, các nhà Thiên văn học đã khẳng định tính đúng đắn của thuyết tinh vân về nguồn gốc hệ Mặt trời: - Dưới tác động của lực hấp dẫn tinh vân liên kết thành đĩa. - Sự co rút làm cho đĩa tinh vân quay. - Vật chất tập trung ở trung tâm - hình thành Mặt trời nguyên thủy (proto-Sun).
- Mặt trời nguyên thủy trở nên đặc, nóng và làm vật chất nóng chảy. - Khi đĩa trở nên lạnh, một bộ phận khí nóng chuyển thành chất rắn. - Một phần nhỏ vật chất liên kết với nhau. Các hạt (Grains), khối (boulders), tiểu hành tinh (planetesimals), hành tinh (planets) được hình thành.
- Các hành tinh bên trong và bên ngoài phát triển theo các cách khác nhau. Giả thuyết Tinh vân (Nebular hypothesis). Vật chất tập trung ở trung tâm hình thành Mặt trời nguyên thủy (proto-Sun) 1. Đặc điểm của vũ trụ 5 - Vũ trụ là thống nhất, không có giới hạn về không gian và thời gian, được cấu tạo bởi hầu hết các nguyên tố hóa học có trong bảng phân loại tuần hoàn Mendeleev.
- Trái đất là một hành tinh của hệ Mặt trời. - Hệ Mặt trời là một bộ phận của hệ Ngân hà (Milky way Galaxy). - Hệ Ngân hà có dạng thấu kính, với đường kính khoảng 100.000 năm ánh sáng, chiều dày trung tâm khoảng 12. Hệ Mặt trời cách trung tâm hệ Ngân hà 30.
- Hệ Ngân hà quay quanh trục theo hướng ngược chiều kim đồng hồ với chu kỳ 180 - 200 năm/vòng. - Hệ Ngân hà cũng chỉ là bộ phận của hệ Siêu ngân hà. - Vũ trụ được cấu tạo bởi rất nhiều hệ siêu Ngân hà. Hệ Mặt trời Hệ Mặt trời bao gồm: 1) Mặt trời (Sun) ở trung tâm.
Mặt trời là ngôi sao khổng lồ, một khối khí nóng bỏng, đường kính: 1.000 km (gấp 109 lần Trái đất), chiếm 99, 86 % tổng khối lượng hệ Mặt trời nên đủ sức hút các hành tinh quay xung quanh nó. Cấu tạo Mặt trời gồm chủ yếu là các khí Hydro, Heli, Oxy. Khoảng cách trung bình từ Mặt Trời đến Trái đất: 149,6 triệu km (1 đơn vị thiên văn). Mặt trời là nguồn cung cấp năng lượng, ánh sáng và nhiệt cho Trái đất.
Có nhiều giả thuyết giải thích sự hình thành Mặt trời: Kant - La Place, Otto Smith, thuyết Tinh vân và Jinser. 2) Các thiên thể nhỏ quay xung quanh, bao gồm: 8 hành tinh, 65 vệ tinh, các tiểu hành tinh, sao chổi, thiên thạch, tinh vân. Năm 2006, Hội vật lý thiên văn Quốc tế đã khai trừ Diêm vương tinh (Pluto) ra khỏi nhóm 9 hành tinh và xếp vào nhóm tiểu hành tinh Plutoid. Các hành tinh của hệ Mặt trời được chia thành 2 nhóm: - Các hành tinh bên trong: Thủy tinh, Kim tinh, Trái đất, Hỏa tinh.
Có đặc điểm: gần Mặt trời; kích thước nhỏ, vật chất rắn, có tỷ trọng lớn (3g/cm 3 hoặc lớn hơn). Ít hoặc không có vệ tinh. Thành phần hoá học chủ yếu: oxy, silic, nhôm, sắt… - Các hành tinh bên ngoài: Mộc tinh, Thổ tinh, Thiên vương tinh, Hải vương tinh. Có đặc điểm: xa Mặt trời; kích thước lớn; vật chất cấu tạo có tỷ trọng nhỏ.
Có nhiều vệ tinh. Thành phần hoá học: hydrogen, helium, carbon diocide… 6 Hình 1. Sơ đồ các hành tinh trong hệ Mặt Trời 1. Hình dạng, kích thước của Trái đất 1.
Các quan niệm về hình dạng của Trái đất - Quan niệm về dạng hình cầu của trường phái pitago và aristot. - Quan niệm hình elipxoit. - Quan niệm hình dạng geoit của Trái đất. Giải thích hình dạng geoit của Trái đất do - Hệ quả của vận động tự quay.
- Sự biến đổi nhiệt độ và sự phân bố lại vật chất trong lòng Trái đất trong quá trình phát triển của nó.