Chương 1. Cơ sở lý luận về TNXH trong hoạt động kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế phục vụ khách du lịch quốc tế đến một quốc gia Chương 2. Tình hình thực hiện TNXH của công ty Cổ phần Du lịch Exotissimo Việt Nam Chương 3. Bài học kinh nghiệm và giải pháp nâng cao TNXH cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế phục vụ khách du lịch quốc tế đến Việt Nam Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TNXH TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ LỮ HÀNH QUỐC TẾ PHỤC VỤ KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ ĐẾN GIA 1. Một số vấn đề cơ bản về TNXH của doanh nghiệp 1. Khái niệm Trước khi đi sâu tìm hiểu về khái niệm TNXH của doanh nghiệp, một số khái niệm liên quan cần được thống nhất, cụ thể như sau: Khái niệm trách nhiệm xã hội - Khái niệm về trách nhiệm + Theo Đại từ điển tiếng Việt (1999), Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin, Hà Nội: “Trách nhiệm là điều phải làm, phải gánh vác hoặc nhận lấy về mình” [8]. + Trong từ điển tiếng Việt (2004) của Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đà Nẵng và Trung tâm từ điển học: “Trách nhiệm được hiểu là sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm tính đúng đắn, nếu sai trái phải chịu hậu quả” [27].
+ Trong cuốn sách Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, tác giả Michel Capron và Francoise Quairel – Lanoizelee cho rằng “trách nhiệm được hiểu là điều kiện quy trách (imputability) những hành động cho chủ thể nào đó” [13, trg10]. Theo quan niệm này, trách nhiệm là cơ sở để đánh giá và ràng buộc những nghĩa vụ của chủ thể đối với hành vi của mình. Phải chăng, hiểu ở nghĩa này, khái niệm trách nhiệm chỉ được sử dụng khi có hành vi gây hậu quả. Cũng trong cuốn sách này, các tác giả đã chỉ rõ, về mặt từ nguyên học, thuật ngữ “trách nhiệm” – “respondere” có nguồn gốc từ tiếng Latinh, có nghĩa là “bảo đảm cho”, “sự đáp lại”.
+ Theo Đinh Thị Cúc, Nguyễn Nghị Thanh (2016), trên góc độ triết học, “trách nhiệm là khái niệm phản ánh quan hệ giữa con người với thế giới và con người với con người trên nguyên tắc tự nguyện hay pháp luật quy định cụ thể bởi vì trách nhiệm vừa là phạm trù đạo đức vừa là phạm trù pháp lý” [4, tr. Qua nghiên cứu một số khái niệm của các tác giả khác nhau về trách nhiệm, tác giả chọn cách giải thích về khái niệm trách nhiệm trong từ điển tiếng Việt năm 2004 của Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đà Nẵng và Trung tâm từ điển học. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Trách nhiệm được hiểu là sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm tính đúng đắn, nếu sai trái phải chịu hậu quả”. Như vậy, một cá nhân hay tập thể chỉ được coi là có trách nhiệm khi họ tuân thủ những quy định của pháp luật, chuẩn mực đạo đức, có sự cân nhắc, tính toán trước về kết quả do những hành vi của mình tạo ra và chịu mọi hậu quả về sự sai trái do hành vi của mình gây ra.
Tuy nhiên, quá trình tính toán trước về kết quả do hành vi của mình tạo ra, những cá nhân, tổ chức phải quan tâm nhiều nhất tới việc đem lại lợi ích không chỉ cho bản thân họ mà còn cho những người, những bên liên quan. - Khái niệm về xã hội “Xã hội là một tập thể hay một nhóm những người được phân biệt với các nhóm người khác bằng các lợi ích, mối quan hệ đặc trưng, chia sẻ cùng một thể chế và có cùng văn hóa” [28]. - Khái niệm trách nhiệm xã hội Từ những quan điểm khác nhau về trách nhiệm dẫn tới nhiều khái niệm khác nhau về trách nhiệm xã hội, cụ thể như sau: + Khái niệm TNXH dùng để chỉ những điều mà cá nhân, tổ chức phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình đối với xã hội. + TNXH là bổn phận của cá nhân cũng như cộng đồng xã hội đối với những quyết định, hành động nhằm làm tăng nghĩa vụ và quyền lợi đối với mỗi thành viên trong xã hội.
Với cách hiểu về trách nhiệm như đã nêu ở trên, tác giả cho rằng TNXH là việc đảm bảo tính đúng đắn về lời nói, hành vi của cá nhân, tổ chức đối với những bên liên quan và toàn xã hội, đồng thời, giải quyết hậu quả bởi những tổn hại do mình gây ra và ngược lại. Đương nhiên, cá nhân, tổ chức ấy phải quan tâm tới lợi ích của các bên liên quan và giảm thiểu tối đa những tác động tiêu cực do lời nói và hành vi của mình gây ra. Khái niệm về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp - Khái niệm về doanh nghiệp: Tại Điều 4, Luật Doanh nghiệp 2005, “doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” [18, trg. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cũng tại Điều 4, Luật Doanh nghiệp 2005, “kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” [18, trg.
Như vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận. * Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Như vậy, tác giả cho rằng TNXH của doanh nghiệp là việc đảm bảo tính đúng đắn trong các hoạt động của doanh nghiệp đối với những bên liên quan và toàn xã hội, đồng thời, giải quyết hậu quả bởi những tổn hại do doanh nghiệp gây ra và ngược lại. Tuy nhiên, cho đến nay, trên thế giới đã có nhiều quan niệm trái chiều về TNXH của doanh nghiệp như: + TNXH là “nghĩa vụ” của doanh nghiệp mang lại “lợi ích cho cộng đồng” như Bowen, hay là “một cam kết thực hiện kinh doanh có đạo đức và đóng góp vào sự phát triển kinh tế, đồng thời cải thiện chất lượng cuộc sống cho người lao động, gia đình họ, cộng đồng địa phương và toàn xã hội” của Hội đồng doanh nghiệp thế giới vì sự phát triển bền vững hoặc là “trách nhiệm của doanh nghiệp đối với những tác động của họ lên xã hội” như của Uỷ ban châu Âu… + TNXH nói chung và TNXH của doanh nghiệp nói riêng dùng để chỉ hoạt động liên quan đến làm từ thiện. + Doanh nghiệp không cần phải có trách nhiệm nào khác ngoài trách nhiệm đối với các cổ đông của mình, trách nhiệm thực hiện chức năng kinh doanh có lợi nhuận, mang lại lợi nhuận cho cộng đồng như nhà nghiên cứu M.
Friedman đã trình bày phần trên. Ngoài ra, còn rất nhiều những quan điểm và khái niệm khác nhau về TNXH của doanh nghiệp nhưng có thể thấy, quan niệm được nhiều người chấp nhận hiện nay là “TNXH của doanh nghiệp đối với những mong muốn của xã hội về kinh tế, luật pháp, đạo đức và từ thiện tại một thời điểm nhất định” của Caroll. Ông đã thể hiện các trách nhiệm của doanh nghiệp bằng mô hình kim tự tháp như sau: 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mô hình 1. Mô hình kim tự tháp TNXH của doanh nghiệp Như vậy, Carroll cho rằng, đối với doanh nghiệp, thực hiện trách nhiệm kinh tế là đầu tiên, cơ bản và quan trọng nhất nhưng chỉ có trách nhiệm kinh tế thôi là chưa đủ.
Do vậy, doanh nghiệp phải có những trách nhiệm cao hơn là trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức và làm từ thiện. Đây được xem là cơ sở để đánh giá việc thực hiện TNXH của doanh nghiệp. Hay nói cách khác, để đánh giá một doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội có tốt hay không, chúng ta phải xem xét cả việc thực hiện trách nhiệm về pháp lý, đạo đức và từ thiện của doanh nghiệp đó. Tác giả nhận thấy, đây là một trong những khái niệm có tính bao trùm nhất, do đó, khái niệm này được tác giả sử dụng xuyên suốt luận văn của mình.
Nội dung TNXH của doanh nghiệp TNXH của doanh nghiệp được thể hiện qua các khía cạnh, cụ thể như sau: 1. Trách nhiệm kinh tế Như đã phân tích ở trên, kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế được thành lập nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Do vậy, có thể khẳng định doanh nghiệp là tổ chức vị lợi, được thành lập nhằm mang lại lợi nhuận, lợi ích cho chủ doanh nghiệp và các cổ đông trước tiên rồi mới mang lại lợi ích cho các bên liên quan.
Doanh nghiệp chỉ tồn tại và phát triển khi hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả và mang lại lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp và các cổ đông. Ngược lại, doanh nghiệp sẽ phá sản nếu không đạt được những mục tiêu về kinh tế. Chính vì vậy, đây là trách nhiệm đầu tiên và cơ bản của doanh nghiệp. 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đồng thời, đảm bảo về kinh tế cho người lao động thông qua lương, thưởng hàng tháng.
Người lao động được chủ doanh nghiệp thuê để tạo ra sản phẩm, dịch vụ và họ kiếm tiền bằng cách bán chất xám và sức lao động của mình. Mức lương, thưởng hàng tháng phụ thuộc vào năng suất, hiệu quả lao động họ mang lại và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nơi họ lao động, làm việc. Do vậy, để đảm bảo về kinh tế, tạo môi trường lao động ổn định, đạt hiệu quả cao, đồng thời giúp người lao động gắn kết, trung thành hơn, doanh nghiệp phải luôn quan tâm tới việc trả lương xứng đáng cho người lao động. Đây cũng là trách nhiệm thứ hai về mặt kinh tế mà mỗi doanh nghiệp phải thực hiện.
Trách nhiệm kinh tế thứ ba là trách nhiệm đối với nhà nước thông qua việc tuân thủ những quy định của pháp luật về thuế, phí, lệ phí. Trách nhiệm pháp lý Trách nhiệm pháp lý là loại trách nhiệm do pháp luật quy định. Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa trách nhiệm pháp lý với các loại trách nhiệm khác như trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm từ thiện.