Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM THU HỒI HÀNG HÓA CÓ KHUYẾT TẬT CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN KINH DOANH 1.1 Khái quát về tổ chức, cá nhân kinh doanh và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh với ngƣời tiêu dùng 1.1 Khái quát về tổ chức, cá nhân kinh doanh Để xác định tư cách của các chủ thể trong quan hệ xã hội, người ta dựa vào các giao dịch mà các chủ thể đó tham gia thực hiện. Tổ chức, cá nhân kinh doanh được hiểu là các chủ thể tham gia tiến hành hoạt động kinh doanh trong xã hội. Theo Từ điển tiếng Việt, “kinh doanh” được hiểu là tổ chức sản xuất, buôn bán sao cho sinh lợi1. Hoạt động kinh doanh là các hành vi thương mại - hoạt động trên cơ sở sự phân công lao động trong xã hội.
Sự ra đời và phát triển của hành vi thương mại xuất hiện muộn hơn hành vi dân sự, gắn liền với nền sản xuất hàng hóa. Theo đó, lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế, đó là sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hàng hóa. Sản xuất tự cấp tự túc là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm do lao động tạo ra nhằm để thỏa mãn trực tiếp nhu cầu của người sản xuất. Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra để trao đổi hoặc mua bán trên thị trường.
Sản xuất hàng hóa ra đời đã xóa bỏ nền kinh tế tự nhiên, phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế của xã hội.2 Khi có sự phân công lao động lần thứ ba trong xã hội, thương nghiệp ra đời, xuất hiện tầng lớp chuyên mua bán các sản phẩm kiếm lời, lúc đó hành vi thương mại, hoạt động kinh doanh được hình thành.3 Trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh chính là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Mục tiêu chính của kinh doanh là tạo ra lợi nhuận. Lợi nhuận được tạo ra khi số tiền thu được trong kinh doanh 1 Xem: Viện ngôn ngữ (1994), Từ điển tiếng Việt, Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội. 2 Xem: Bộ giáo dục và đào tạo (2014), Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, Nxb.Chính trị quốc gia-sự thật, Hà Nội, tr 186.
3 Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam. Tư pháp, Hà Nội, tr 41. 5 (doanh thu) lớn hơn số tiền phải chi phí (chi phí kinh doanh), tiền bán ra trừ tiền chi phí bằng lợi nhuận.4 Kinh doanh là hoạt động kinh tế bao gồm các hành vi thương mại như mua bán, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động khác nhằm mục đích sinh lợi trong các lĩnh vực như: tài chính; thông tin, tin tức, giải trí; bất động sản; sản xuất công nghiệp; nông lâm ngư nghiệp; vận tải; bán lẻ, phân phối… Khi xác định hoạt động kinh doanh, chúng ta quan tâm đến việc có hay không có mục tiêu tạo ra lợi nhuận, chứ không quan tâm đến việc thực hiện mục tiêu đó như thế nào, lời hay lỗ không thành vấn đề cho việc xác định hành vi kinh doanh cũng như là chủ thể kinh doanh. Có thể kết luận rằng, lợi nhuận là đích đến cuối cùng của hoạt động kinh doanh, và khi các tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động nhằm mục đích kiếm lời trên thị trường và có đủ các đặc điểm nhất định dưới đây thì được coi là tổ chức, cá nhân kinh doanh: Thứ nhất, tổ chức, cá nhân kinh doanh phải thực hiện các hành vi thương mại, hoạt động kinh doanh.
Đây là đặc điểm luôn đi liền với tổ chức, cá nhân kinh doanh. Muốn xem một chủ thể có phải tổ chức, cá nhân kinh doanh hay không thì phải xem chủ thể đó có hành vi thương mại hay không. Thực hiện hành vi thương mại là một đặc điểm không thể tách rời tư cách tổ chức, cá nhân kinh doanh, là tiêu chí quan trọng để nhận biết chủ thể kinh doanh. Theo đó, hành vi thương mại phải có đặc điểm cơ bản sau: Hành vi thương mại được thực hiện trên thị trường và nhằm mục đích sinh lời.
Là hành vi diễn ra trên thị trường, phải tuân theo các quy luật của thị trường, trong đó phải kể đến các quy luật như: Quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật tăng lợi nhuận, quy luật kích thích sức mua giả tạo, quy luật của người mua, quy luật về ý chí tiến thủ của chủ doanh nghiệp… Dưới sự tác động của các quy luật đó sẽ làm hành vi thương mại có những nét đặc thù so với hành vi dân sự. Hơn nữa, hành vi thương mại không chỉ là hành vi diễn ra trên thị trường mà còn phải có mục đích, đó là sinh lời. Những hành vi này thực hiện với mục đích là có lãi hơn so với chi phí bỏ ra ban đầu. Hành vi thương mại là hành vi mang tính chất nghề nghiệp.
Chủ thể của hành vi thực hiện theo sự phân công lao động xã hội, các hành vi này được chủ thể tiến hành 4 Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, tlđd số chú dẫn trước đó 3, tr 40. 6 thường xuyên, liên tục, thể hiện tính chuyên nghiệp và mang lại thu nhập chính cho chủ thể thực hiện. Một số hành vi nhằm mục đích sinh lời nhưng chúng không phải là hành vi thường xuyên của chủ thể, không mang lại nguồn thu nhập chính cho chủ thể thì không được coi là hành vi thương mại. Thứ hai, tổ chức, cá nhân kinh doanh phải thực hiện hành vi thương mại độc lập, mang danh nghĩa chính mình và vì lợi ích bản thân mình Hoạt động độc lập có nghĩa là có khả năng bằng hành vi của mình, nhân danh chính mình tham gia các quan hệ pháp luật và tự chịu trách nhiệm đối với các hành vi đó.
Khi thực hiện hành vi thương mại, tổ chức, cá nhân kinh doanh không bị chi phối bởi ý chí của các chủ thể khác mà được hoạch định bởi ý chí của chính mình. Việc nhân danh xuất phát từ quyền độc lập kinh doanh của chủ thể. Đặc điểm này để phân biệt tổ chức, cá nhân kinh doanh và các chủ thể khác tham gia vào quan hệ thương mại. Như người làm công ăn lương, các nhân viên quản lý điều hành… đều không phải là các tổ chức, cá nhân kinh doanh do họ thực hiện những hành vi thương mại vì lợi ích của ông chủ, họ nhận được một khoản tiền lương từ công việc của mình.
Thứ ba, tổ chức, cá nhân kinh doanh thực hiện hành vi thương mại thường xuyên, mang tính chất nghề nghiệp. Điều này có nghĩa là tổ chức, cá nhân kinh doanh khi tham gia hoạt động kinh doanh thì phải tiến hành các hành vi thương mại thường xuyên, liên tục và lặp đi lặp lại. Cùng với đó, nó mang lại nguồn thu nhập chính cho chủ thể thực hiện hành vi. Tính nghề nghiệp và tính thường xuyên xác định tư cách chủ thể kinh doanh.
Dễ dàng nhận thấy, mặc dù trên thương trường có thể có các tổ chức, cá nhân thực hiện các hành vi nhằm mục đích sinh lợi nhưng chúng không thể được coi là hành vi thương mại, bởi hành vi đó không phải là hoạt động thường xuyên của chủ thể thực hiện và hành vi đó không mang lại thu nhập chính cho người đó. Chẳng hạn, nhân chuyến đi công tác, một viên chức mua số lượng hàng hóa nhất định nào đó ở nơi công tác về bán để kiếm lời5. Bên cạnh tính thường xuyên của hoạt động thương mại, khi xác định tư cách chủ thể của tổ chức, cá nhân kinh doanh cũng cần quan tâm đến tính nghề nghiệp mặc dù yếu tố thường xuyên đã hàm chứa những nội dung của tính nghề nghiệp rồi nhưng 5 Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam. Tư pháp, Hà Nội, tr 47.
Một người làm nhiều nghề khác nhau, nếu nghề chính của họ là nghề thương mại thì họ có tư cách tổ chức, cá nhân kinh doanh, ngược lại nếu thương mại chỉ là nghề phụ, thu nhập từ nghề thương mại chiếm tỉ lệ không đáng kể so với thu nhập từ nghề khác thì họ không có tư cách của tổ chức, cá nhân kinh doanh. Ví dụ một trường đại học, thường niên hằng năm vẫn thường tổ chức chương trình làm hoa từ thiện, tự chế tạo ra các bó hoa rồi bán lấy tiền để làm quỹ từ thiện. Đây là hoạt động nhằm mục đích sinh lời, mang tính thường xuyên hàng năm nhưng trường đại học đó không được coi là tổ chức kinh doanh vì chức năng nghề nghiệp chính của họ là giáo dục, mọi thu nhập có được từ hoạt động giáo dục là chủ yếu, thu nhập từ việc bán hoa chỉ chiếm một tỉ lệ không đáng kể trong tổng thu nhập của trường. Do đó, tính chất nghề nghiệp cũng là dấu hiệu quan trọng để xác định tư cách chủ thể của tổ chức, cá nhân kinh doanh.
Thứ tư, tổ chức, cá nhân kinh doanh phải có năng lực hành vi thương mại Chủ thể kinh doanh trước hết là chủ thể hành vi dân sư, chủ thể này phải có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, các chủ thể này được tự do và chủ động tiến hành các hành vi thương mại. Tiếp đó là năng lực hành vi thương mại, tức phải có khả năng của cá nhân, pháp nhân bằng những hành vi của mình làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ quan hệ pháp luật thương mại và tự chịu trách nhiệm về các hành vi đó. Như vậy, có thể hiểu tổ chức, cá nhân kinh doanh là các tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.2 Khái quát về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với người tiêu dùng Trong cuộc sống hàng ngày, thuật ngữ “trách nhiệm” được sử dụng với nhiều nghĩa khác nhau tùy thuộc vào lĩnh vực và ngữ cảnh cụ thể. Theo Từ điển tiếng Việt, “trách nhiệm” được hiểu là phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả; Hoặc là sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái thì phải gánh chịu phần hậu quả.