CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI Mục tiêu: - Kiến thức: + Phân tích được tính tất yếu khách quan của trợ giúp xã hội; + Nêu được đối tượng, chức năng và phương pháp nghiên cứu của môn học; + Trình bày được một số khái niệm liên quan đến môn học; + Nêu được lịch sử hình thành và phát triển của trợ giúp xã hội ở Việt Nam. - Kỹ năng: Xác định được vị trí của môn học trong chương trình đào tạo nghề công tác xã hội. Từ đó, áp dụng có hiệu quả kiến thức trợ giúp xã hội trong nghề nghiệp. - Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Tích cực rèn luyện phẩm chất nghề nghiệp, chấp hành tốt các quy định trong quá trình học tập.
Nội dung chương: I. Tính tất yêu khách quan của trợ giúp xã hội 1. Tác động của điều kiện tự nhiên Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, mặc, ở… Để thoả mãn nhu cầu tối thiểu này, con người phải lao động làm ra những sản phẩm cần thiết. Của cải xã hội càng nhiều, mức độ thoả mãn nhu cầu càng cao, nghĩa là việc thoả mãn nhu cầu phụ thuộc vào khả năng lao động của con người.
Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời, không phải khi nào con người cũng có thể lao động tạo ra được thu nhập. Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn, bất hạnh, rủi ro xảy ra làm cho con người bị giảm, mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác, chẳng hạn, bị bất ngờ ốm đau, tai nạn, mất người nuôi dưỡng, tuổi già, tử vong… Hơn nữa, cuộc sống của con người trên trái đất phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên và môi trường sống. Những điều kiện thiên nhiên và xã hội không thuận lợi đã làm cho một bộ phận dân cư cần phải có sự giúp đỡ nhất định để bảo đảm cuộc sống bình thường. Do đó, để tồn tại và phát triển, con người đã có nhiều biện pháp khác nhau để khắc phục khó khăn.
Từ xa xưa, trước những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống, con người đã tự khắc phục, như câu phương ngôn “tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn”; đồng thời, còn được sự san sẻ, đùm bọc, cưu mang của cộng đồng. Sự tương trợ dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau. Những yếu tố đoàn kết, hướng thiện đó đã tác động tích cực đến ý thức và công việc xã hội của các Nhà nước dưới các chế độ xã hội khác nhau. Trong quá trình phát triển xã hội, đặc biệt là từ sau cuộc cách mạng công nghiệp, hệ thống ASXH đã có những cơ sở để hình thành và phát triển.
Quá trình công nghiệp hoá làm cho đội ngũ người làm công ăn lương tăng lên, cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập do lao động làm thuê đem lại. Sự hẫng hụt về tiền lương trong các trường hợp bị ốm đau, tai nạn, rủi ro, bị mất việc làm hoặc khi về già…, đã trở thành mối đe doạ đối với cuộc sống bình thường của những người không có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lương. Sự bắt buộc phải đối mặt với những nhu cầu thiết yếu hàng ngày đã buộc những người làm công ăn lương tìm cách khắc phục bằng những hành động tương thân, tương ái (lập các quỹ tương tế, các hội đoàn…); Đồng thời, đòi hỏi giới chủ và Nhà nước phải có trợ giúp bảo đảm cuộc sống cho họ. Bởi vì không phải lúc nào con người cũng gặp những thuận lợi, may mắn mà ngược lại luôn bị đe dọa trước những biến cố, rủi ro, bất hạnh,.
vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Khi rơi vào những tình huống như vậy, nhu cầu khắc phục khó khăn, đảm bảo cuộc sống, vươn lên hòa nhập cộng đồng trở thành một nhu cầu cấp thiết. Đặc biệt, đối với những thuộc nhóm yếu thế, khi rơi vào những hoàn cảnh như vậy, họ lại càng dễ bị đe dọa và tổn thương nặng nề, không đủ khả năng tự lo liệu được cho cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình. Do đó, TGXH đối với nhóm người này là một biện pháp tương trợ cộng đồng mà con người tìm đến để giúp nhau vượt qua những tình huống khó khăn.
Đây là hình thức tương trợ cộng đồng đơn giản, phổ biến và giữ vai trò quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội mỗi quốc gia. Tác động của điều kiện kinh tế Trên bình diện kinh tế, trợ giúp xã hội là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng, được thực hiện theo hai chiều ngang và dọc. Sự phân phối lại thu nhập theo chiều ngang là sự phân phối lại giữa những người khoẻ mạnh và người ốm đau, giữa người đang làm việc và người đã nghỉ việc, giữa người chưa có con và những người có gánh nặng gia đình. Một bên là những người đóng góp đều đặn vào các loại quỹ TGXH hoặc đóng thế, còn bên kia là những người được hưởng trong các trường hợp với các điều kiện xác định.
Thông thường, sự phân phối lại theo chiều ngang chỉ xảy ra trong nội bộ những nhóm người được quyền hưởng trợ cấp (một “tập hợp đóng” tương đối). Sự phân phối lại thu nhập theo chiều dọc là sự chuyển giao tài sản và sức mua của những người có thu nhập cao cho những người có thu nhập quá thấp, cho những nhóm người “yếu thế”. Phân phối lại theo chiều dọc được thực hiện bằng nhiều kỹ thuật khác nhau: trực tiếp (thuế trực thu, kiểm soát giá cả, thu nhập và lợi nhuận…) hoặc gián tiếp (trợ cấp thực phẩm, cung cấp hiện vật hoặc các dịch vụ công cộng như giáo dục, y tế, nhà ở, giúp đỡ và bảo vệ trẻ em…). Việc phân phối lại theo chiều dọc có ý nghĩa xã hội rất lớn (thực hiện cho một “tập hợp mở” tương đối).
Tuy nhiên, trên thực tế, việc thực hiện phân phối lại theo chiều dọc còn gặp nhiều khó khăn do điều kiện tài chính và tổ chức. Song cũng có thể có một số biện pháp để thực hiện một số chế độ cho những người có thu nhập thấp thông qua hệ thống đóng góp và hệ thống trợ cấp. Những người có thu nhập thấp thường được miễn giảm chế độ đóng góp, hoặc được người chủ sử dụng lao động (kể cả Nhà nước) đóng cho hoàn toàn. Hệ thống trợ cấp cũng lưu ý tới những người có thu nhập thấp (tỷ lệ trợ cấp cao hơn so với những người có thu nhập cao).
Sự phân phối theo chiều ngang và theo chiều dọc đã tạo ra một lưới TGXH. Tác động của điều kiện chính trị - xã hội Thực hiện các chính sách an sinh xã hội là nhằm bảo đảm phân phối những thành quả tăng trưởng kinh tế theo hướng bảo đảm công bằng xã hội và hài hòa lợi ích giữa các chủ thể, nhóm xã hội và tạo sự đồng thuận xã hội, Hiện nay, cả nước đang trợ giúp bằng tiền mặt hằng tháng và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho 2,73 triệu đối tượng, chiếm gần 3% dân số, trong đó có hơn 1,6 triệu người cao tuổi; trên 900 nghìn người khuyết tật; 216 nghìn trẻ em. Mức chuẩn trợ cấp được điều chỉnh tăng tương ứng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và nguồn lực thực hiện của các địa phương.Các cơ sở trợ giúp xã hội công lập và ngoài công lập đã có bước phát triển nhất định. Cả nước hiện có 418 cơ sở trợ giúp xã hội gồm 195 cơ sở công lập và 223 cơ sở ngoài công lập nuôi dưỡng, chăm sóc hơn 41.
Nhiều mô hình trung tâm công tác xã hội đã vận hành hiệu quả tại các tỉnh và thành phố, như Quảng Ninh, Đà Nẵng, Bến Tre, Long An, Thanh Hóa, Thành phố Hồ Chí Minh. Trợ giúp xã hội là một trong những chính sách xã hội cơ bản thể hiện đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước ta hướng vào mục tiêu phát triển con người, thúc đẩy công bằng và tiến bộ, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước. Để chính sách này đảm bảo tốt hơn đời sống cho người dân, góp phần tích cực vào việc ổn định, an toàn xã hội, đẩy mạnh sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước thì việc xây dựng và hoàn thiện Pháp luật về trợ giúp xã hội ở Việt Nam là hết sức cần thiết. Pháp luật trợ giúp xã hội phải trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành tựu lập pháp đã đạt được cũng như điều chỉnh các quan hệ mới theo điều kiện thực tế để Việt Nam có được một hệ thống trợ giúp xã hội phát triển, đủ sức chống đỡ với các rủi ro xã hội.
Tác động của quy luật phát triển không đều của con người Mỗi sự vật, hiện tượng trên đều tồn tại theo hai quy luật nhất định đó là quy luật mối liên hệ phổ biến và quy luật phát triển. Quy luật phát triển cho ta biết mọi sự vật hiện tượng đều vận động theo một xu hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Quy luật đó là quy luật phát triển. Bảo đảm an sinh xã hội trở thành vấn đề trung tâm trong chiến lược phát triển bền vững của đất nước.
Việt Nam đang tích cực đẩy mạnh xây dựng một hệ thống an sinh xã hội với các chức năng phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục được các rủi ro, đảm bảo cuộc sống tối thiểu cho mọi người trong mọi hoàn cảnh. Chiến lược an sinh xã hội Việt Nam giai đoạn 2011-2020 nhằm đảm bảo mọi người dân có mức sống trung bình, không rơi vào tình trạng bần cùng hóa khi phải đối mặt với các rủi ro, bất trắc. Với mục tiêu đến năm 2020, hệ thống an sinh xã hội sẽ che phủ khắp toàn dân, hướng vào mục tiêu quyền con người, đặc biệt là quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử, và bảo vệ các nhóm yếu thế trong xã hội (Vũ Văn Phúc, 2012). Trong điều kiện đó, bảo trợ xã hội ở Việt Nam đứng trước một đòi hỏi cấp bách là phải nhanh chóng hoàn thiện các chế độ (số lượng, nội dung đảm bảo, nguồn huy động,…) nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân trong điều kiện phát triển mới (kinh tế thị trường, kinh tế tư nhân, hội nhập quốc tế).
Thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội ở Việt Nam trong những năm gần đây cho thấy, tăng trưởng bền vững không phải là mục tiêu dễ dàng thực hiện.