CHƯƠNG 1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 1. Hoàn cảnh ra đời của Viện kiểm sát Tổ chức của Viện công tố - tiền thân của Viện kiểm sát nhân dân Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Tuy nhiên, ngay sau khi giành được độc lập, các thế lực thù địch phản động chống phá cách mạng rất quyết liệt. Trước tình thế cấp bách đó, hệ thống cơ quan tư pháp nói chung và cơ quan được giao nhiệm vụ thực hiện quyền công tố Nhà nước nói riêng được tổ chức đa dạng, linh hoạt nhằm phục vụ nhiệm vụ cách mạng.
Cùng với việc kiện toàn bộ máy nhà nước, hệ thống Tòa án của chính quyền nhân dân đã từng bước được tổ chức hoạt động trên phạm vi cả nước. Ngày 13/9/1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành Sắc lệnh số 33c về việc thành lập Tòa án Quân sự ở 3 miền Bắc, Trung, Nam để “xét xử tất cả các người nào phạm vào một việc gì có phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, trừ những người phạm tội là những binh sĩ thì thuộc thẩm quyền xét xử của nhà binh theo quân luật”. Sắc lệnh này là vũ khí tư pháp sắc bén để trấn áp và trừng trị những thế lực thù địch, bảo vệ thành quả cách mạng. Đây cũng là cơ sở pháp lý đầu tiên của Nhà nước dân chủ nhân dân đánh dấu sự ra đời của hệ thống Tòa án, đồng thời cũng là văn bản pháp lý đầu tiên quy định về tổ chức và hoạt động của cơ quan Công tố trong bộ máy nhà nước ta.
Toà án quân sự được thiết lập đã tiến hành xét xử nhiều vụ án phản cách mạng, chặn đứng âm mưu phá hoại của kẻ địch. Về chức năng công tố, Điều V, Sắc 1 lệnh 33c quy định rõ “Đứng buộc tội là một Uỷ viên quân sự hay một Uỷ viên của Ban Trinh sát”. Như vậy, lần đầu tiên, chức năng công tố nhà nước được quy định bằng một văn bản pháp lý do người đứng đầu Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ban hành. Nội dung của quyền công tố theo quy định của Sắc lệnh này là đưa một người phạm tội ra xét xử tại Tòa án và thực hiện việc buộc tội trước Tòa án.
Trong bối cảnh vừa giành được độc lập, việc thiết lập các cơ quan trong bộ máy nhà nước là yêu cầu rất cấp thiết của chính quyền cách mạng dân chủ nhân dân, đặc biệt là các cơ quan có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo đảm trật tự xã hội. Bên cạnh việc thiết lập hệ thống Tòa án quân sự và Tòa án binh để xét xử những tội phạm phản cách mạng, những tội vi phạm trật tự quân đội, vi phạm kỷ luật của nhà binh, cần thiết phải thiết lập hệ thống Tòa án thường để xét xử các tội phạm và vi phạm pháp luật nhằm bảo vệ Nhà nước và bảo vệ nhân dân. Xuất phát từ yêu cầu đó, ngày 24 tháng 1 năm 1946, Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban hành Sắc lệnh số 13 về việc tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán (trong đó có Thẩm phán buộc tội). Về tổ chức bộ máy, Tòa án thường gồm có Toà sơ cấp, Toà đệ nhị cấp, Toà thượng thẩm.
Cơ quan công tố được tổ chức trong Tòa án đệ nhị cấp và Toà thượng thẩm, tạo thành một đoàn thể độc lập với các Thẩm phán xét xử. Về thẩm quyền, toà án thường xét xử các tội phạm hình sự thường và các việc hộ (dân sự, thương mại). Trong thời kỳ này, mặc dù cơ quan Công tố được tổ chức trong hệ thống Tòa án thường, nhưng hoạt động của cơ quan Công tố hoàn toàn độc lập với hoạt động xử án của Tòa án. Việc quyết định truy tố hay không truy tố cũng như việc quản lý các Thẩm phán buộc tội (hay còn gọi là Biện lý) hoàn toàn thuộc thẩm quyền của người đứng đầu Công tố viện (Chưởng lý).
Mối quan hệ độc lập này được khẳng định rõ tại Sắc lệnh số 51 ngày 17 tháng 4 năm 1946, Điều 17 Sắc lệnh này quy định: “Ông Chánh án có quyền điều khiển và kiểm soát tất cả nhân viên khác trong Tòa án, trừ các Thẩm phán buộc tội”. 2 Về tổ chức, Cơ quan công tố viện trong thời kỳ này được tổ chức trong hệ thống toà án ở hai cấp: Toà đệ nhị cấp và Toà thượng thẩm. Về thẩm quyền của Biện lý tại Toà đệ nhị cấp trong lĩnh vực tố tụng hình sự: Có quyền điều khiển hoạt động và giám sát hoạt động của Ban tư pháp cảnh sát trong quản hạt của mình; có quyền nhận đơn khởi tố của tư nhân, biên bản do Ban tư pháp cảnh sát lập. Sau khi tiếp nhận đơn khởi tố của tư nhân hoặc biên bản do Ban tư pháp cảnh sát lập, Biện lý có thể thực hiện một trong những thẩm quyền đình cứu và thông báo về việc đình cứu cho người đã khởi tố hoặc Ban tư pháp của cảnh sát đã lập biên bản biết; đưa vụ việc ra phiên toà để xét xử; đưa vụ việc sang phòng dự thẩm để thẩm cứu.
(Điều 21 Sắc lệnh số 51) Đối với những vụ tiểu hình, xét thấy việc điều tra đã đầy đủ căn cứ cho việc truy tố mà không cần phải giam bị can thì Biện lý cho trát gọi thẳng bị can ra xét xử tại một phiên toà tiểu hình gần nhất. Đối với những vụ tiểu hình, thuộc trường hợp phạm tội quả tang, Biện lý thực hiện ngay việc hỏi cung bị can và có thể ra lệnh tống giam bị can rồi quyết định đưa bị can ra xét xử tại một phiên tiểu hình gần nhất. Đối với những vụ án hình sự là vụ đại hình, bị can là người chưa thành niên; có tiền án; hoặc xét cần phải thẩm cứu kỹ hơn thì Biện lý sẽ làm khởi tố trạng chuyển hồ sơ sang phòng dự thẩm để thẩm cứu. Sau khi nhận được hồ sơ thẩm cứu, Biện lý có thể làm quyết tố trạng ra mệnh lệnh hoặc tạm đình cứu hoặc miễn tố vô thẩm quyền hay đưa vụ việc ra xét xử.
Khi quyết định đưa vụ việc ra xét xử, Biện lý có trách nhiệm đưa ra tất cả các bằng chứng, triệu tập nhân chứng và đương sự đôi bên ra Toà. (Điều 23 Sắc lệnh số 51) Biện lý cũng như những người đương sự, có quyền kháng cáo những mệnh lệnh của dự thẩm, trừ mệnh lệnh đưa ra Toà. (Điều 24 Sắc lệnh số 51) 3 Tại phiên toà, Biện lý thay mặt xã hội buộc tội bị can (Điều 26 Sắc lệnh số 51) có trách nhiệm tổ chức thi hành cấp tốc những mệnh lệnh của Chánh án tại phiên toà. Có quyền kháng cáo bản án hình sự của Toà án (Điều 28 Sắc lệnh số 51).
Ngoài ra, Biện lý còn có trách nhiệm thi hành những bản án đã có hiệu lực pháp luật của Toà án. (Điều 29 Sắc lệnh số 51) Về thẩm quyền của Biện lý trong lĩnh vực tố tụng dân sự: Biện lý có nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của các vị thành niên, của người bị cấm quyền, của các pháp nhân hành chính; có quyền đứng làm chánh tố hay nguyên đơn chính trong các việc kiện về dân sự theo thẩm quyền; bắt buộc phải có mặt trong những phiên xử án dân sự và có quyền yêu cầu Toà án áp dụng mọi biện pháp cần thiết để chứng tỏ sự thật của vụ án; bắt buộc phải can thiệp vào những việc quan hệ đến nhân thân, căn cước và những việc khác mà pháp luật yêu cầu phải có ý kiến của Công tố viên (Điều 30, Điều 41 Sắc lệnh số 51) Về thẩm quyền của Chưởng lý: ở trong quản hạt Toà thượng thẩm của mình, người này phải có trách nhiệm trông nom việc thi hành các đạo luật, sắc lệnh và quy tắc hiện hành. Có trách nhiệm đốc thúc việc thi hành các án văn khi có những điều khoản liên quan đến trật tự chung. Có quyền trưng cầu binh lực trong những trường hợp và theo những thủ tục do pháp luật quy định.
Có trách nhiệm trông nom, giữ gìn trật tự Toà án, kiểm soát hoạt động của tất cả các nhân viên Ban tư pháp cảnh sát kỳ. Có quyền kiểm soát các công lại trong quản hạt Toà án mình và phận sự báo cho ông Bộ trưởng Bộ tư pháp biết tất cả những việc gì có liên can đến quan kỷ của Chánh lục sự, lục sự, thư ký, công chứng viên, luật sư… Có trách nhiệm đệ đơn lên Bộ trưởng Bộ tư pháp về những trường hợp xin ân xá hoặc phóng thích. (Điều 40 Sắc lệnh số 51) Vào đầu năm 1950, yêu cầu của cuộc cách mạng đặt ra là phải xây dựng một Nhà nước dân chủ nhân dân, xây dựng một nền tư pháp mới, nền tư pháp phục vụ 4 cách mạng, phục vụ nhân dân được đặt ra hết sức cấp thiết. Nhận thức rõ được tầm quan trọng của nền tư pháp cách mạng trong thiết chế Nhà nước dân chủ nhân dân, tháng 3 năm 1950, Bộ Tư pháp mở Hội nghị cải cách tư pháp lần thứ nhất tại thôn Đồng Min, xã Bình Yên, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Trên cơ sở kết quả của Hội nghị cải cách tư pháp năm 1950 và bản thuyết trình của Bộ Tư pháp trình Chính phủ về việc đề nghị cho ban hành sắc lệnh về cải cách bộ máy tư pháp và thẩm quyền tố tụng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 85-SL ngày 22 tháng 5 năm 1950 về cải cách Bộ máy tư pháp và luật tố tụng; Sắc lệnh số 103-SL ngày 5 tháng 6 năm 1950 quy định mối liên hệ giữa Uỷ ban kháng chiến hành chính với các cơ quan chuyên môn. Về vị trí của cơ quan công tố so với các quy định được ban hành trước cuộc cải cách tư pháp năm 1950 về cơ bản không thay đổi, vẫn được tổ chức trong hệ thống Tòa án. Sau cuộc cải cách tư pháp năm 1950, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là tiếp tục khẳng định Viện Công tố có quyền kháng cáo với việc hộ 1; đối với những biên bản hoà giải thành, pháp luật quy định có hiệu lực ngay, nhưng Biện lý có thẩm quyền xem xét biên bản hoà giải thành và trong trường hợp phát hiện thoả thuận đó xâm phạm đến trật tự chung thì có quyền kháng cáo, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền sửa đổi hoặc bác bỏ những nội dung hai bên đã thoả thuận.