đặt vấn đề, góc độ tiếp cận và mục đích sử dụng. Trên thế giới, có hai quan điểm tiếp cận rộng, hẹp khác nhau về BTXH. Quan điểm thứ nhất, BTXH có nội hàm rất hẹp, chỉ đơn giản đó là những ban phát về phúc lợi xã hội cho những đối tượng như TEMC, NKT. gặp khó khăn.
Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đã định nghĩa: “BTXH có thể được hiểu như là một tập hợp các hành động công cộng nhằm giải quyết các vấn đề nghèo đói, những cú sốc kinh tế và tính dễ bị tổn thương về mặt xã hội, thông qua các hoạt động trợ cấp hoặc hỗ trợ bằng hiện vật và các chương trình để đảm bảo tiếp cận với các dịch vụ cơ bản (y tế, giáo dục và dinh dưỡng), BTXH giúp thực hiện các quyền con người của trẻ em và gia đình”[48]. Theo cách hiểu này, BTXH chỉ được xem là các chương trình, chính sách phân bổ những nguồn cứu trợ cho các đối tượng gặp rủi ro, có khó khăn về kinh tế và sinh kế. Như vậy, quan điểm này đánh đồng BTXH với mạng lưới an toàn xã hội. Quan điểm thứ hai, BTXH được hiểu theo nghĩa rộng khi tính tới cả những trợ cấp về giáo dục, y tế, các chương trình tín dụng và tạo việc làm hay 10 cả những mạng lưới an toàn đưa đến cho những nhóm đối tượng có nguy cơ ảnh hưởng trước các cú sốc.
Theo Viện Nghiên cứu Liên hợp quốc đối với phát triển xã hội, “BTXH gồm các chính sách, các chương trình quốc gia và quốc tế nhằm xóa đói, giảm nghèo và dễ bị tổn thương bằng cách thúc đẩy thị trường lao động hiệu quả, làm giảm bớt nguy cơ bị nhiễm rủi ro, tăng cường năng lực quản lý rủi ro về kinh tế, xã hội như thất nghiệp, khuyết tật và tuổi già”[49]. Theo quan điểm này, BTXH nhằm mục đích ngăn ngừa, quản lý và khắc phục những tình huống có ảnh hưởng đến người dân. Theo Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), “BTXH là các chương trình, chính sách giảm nghèo và giảm sự yếu thế cho các đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội, bởi sự thúc đẩy có hiệu quả của thị trường lao động, giảm thiểu rủi ro của người dân và nâng cao năng lực của họ để đối phó với ruiur ro, suy giảm hoặc mất thu nhập, mục đích là ngăn ngừa, giải thiểu, hoặc giảm nhẹ tác động môi trường và xã hội tiêu cực, trong đó bao gồm bảo vệ quyền của những đối tượng có khả năng bị ảnh hưởng hoặc bị lề hóa bởi quá trình phát triển”[50]. Theo định nghĩa này, BTXH gồm 5 bộ phận hợp thành[51].
Đó là các chính sách và chương trình nhằm phát triển thị trường lao động; BHXH, TGXH; Quỹ hỗ trợ phát triển cộng đồng; bảo vệ trẻ em. Theo Ngân hàng thế giới (WB), “BTXH là tập hợp các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng cũng như bảo trợ nguồn nhân lực, từ những can thiệp trên thị trường lao động, bảo hiểm thất nghiệp và tuổi già ban bố rộng rãi đến các hỗ trợ thu nhập có trọng tâm, giúp các cá nhân, hộ gia đình và cả cộng đồng quản trị rủi ro đe dọa tới thu nhập tốt hơn”[52]. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), “BTXH là tổ hợp các chính sách và chương trình được vạch ra nhằm giảm thiểu đói nghèo và thực trạng dễ bị ảnh hưởng thông qua việc thúc đẩy thị trường lao động vận hành hiệu quả, giảm thiểu nguy co rủi ro và nâng cao năng lực giúp họ tự bảo trợ được mình trước những mối nguy và gián đoạn hay mất mát trong thu nhập”. Hay “BTXH là công cụ chính sách quan trọng giúp giảm nghèo và bất bình đẳng 11 trong khi thúc đẩy tăng trưởng toàn diện thông qua việc nâng cao sức khỏe và năng lực của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội, giúp tăng năng suất lao động, kích cầu trong nước và tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế quốc dân” [53].
Trong khi đó, Ủy ban châu Âu (EC) cho rằng, “BTXH chính là các chính sách và hành động nâng cao năng lực của tất cả mọi người nhằm mục đích cung cấp một mức độ ASXH trong suốt giai đoạn hoạt động, không hoạt động và các giai đoạn cần thiết trong suốt vòng đời”[54]. Qua các định nghĩa trên đây có thể nhận thấy, về phạm vi, đối tượng của BTXH đều được xác định là trẻ em, NCT, NKT và những người trong độ tuổi lao động nhưng không có thu nhập. Mỗi cách tiếp cận đều xếp thứ tự ưu tiên đối với những vấn đề cần giải quyết, hoặc là theo mức thu nhập hoặc mức sống thấp hoặc theo chiều biến động đi xuống trong thu nhập và mức sống giảm. Về chủ thể thực hiện BTXH đều được xác định là chính quyền (nhà nước) và các tổ chức xã hội mang tính tự nguyện.
Về mục đích, trước hết đều nhằm bảo đảm một mức sống tối thiểu, cơ bản cho các đối tượng yếu thế trong xã hội và cho tất cả mọi người bằng những biện pháp công bằng, toàn diện hơn. Ở Việt Nam, BTXH có nội dung tương đồng với TGXH và trợ cấp xã hội, tạo thành một trong ba trụ cột cơ bản của hệ thống ASXH và là vấn đề được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm. Trong nhiều thập kỷ, BTXH được giới hạn trong các chính sách xóa đói, giảm nghèo, trợ giúp xã hội cho những người có hoàn cảnh khó khăn, hỗ trợ các nhóm thiệt thòi trong xã hội. Xóa đói, giảm nghèo, mamg lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho người dân vừa là sự nghiệp tất yếu của sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo, vừa đồng thời là thước đo đánh giá chất lượng thực sự của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
BTXH được thiết kế như một mạng lưới an toàn nhằm giảm thiểu các tác động xấu khi rủi ro kinh tế, xã hội xảy ra. BTXH còn được xem như “phao cứu sinh”, một lưới an toàn hỗ trợ cho các thành viên trong xã hội 12 được bảo đảm sự an toàn về đời sống về vật chất và tinh thần khi họ bị rơi vào hoàn cảnh rủi ro mà tự bản thân không tự khắc phục được. Hệ thống chính sách xóa đói, giảm nghèo cũng vì thế đã được ban hành khá đồng bộ, toàn diện, ngân sách nhà nước và nguồn lực huy động từ xã hội đầu tư cho công tác giảm nghèo ngày càng tăng; nhận thức, ý chí vươn lên của người nghèo tăng cao, thể hiện tính ưu việt và bản chất tốt đẹp của chế độ ta. Bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận về thực hiện chính sách, pháp luật về BTXH, hiện đang tồn tại nhiều vướng mắc, bất cập trên phương diện nhận thức lý luận và thực tiễn pháp lý về BTXH.
Dưới góc độ tâm lý học, BTXH là chính sách tập hợp các biện pháp đối xử, bảo vệ những đối tượng yếu thế trong xã hội nhằm kích thích và tạo động cơ hoạt động, thúc đẩy nhóm đối tượng này vượt qua hoàn cảnh nghèo đói, bị tổn thương, bị gạt ra ngoài lề xã hội và vươn lên trong cuộc sống. Dưới góc độ pháp lý, BTXH là hệ thống các cơ chế, chính sách, biện pháp của nhà nước và xã hội được thể chế hóa nhằm bảo vệ và giúp đỡ về thu nhập, các điều kiện sống thiết yếu khác cho những người gặp rủi ro, khó khăn, hoạn nạn, bất hạnh, người yếu thế trong xã hội vì những nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau, mà đối tượng này bị hạn chế trong việc tự lo liệu được cuộc sống. Dưới góc độ thực tiễn, chính sách, pháp luật về BTXH của Việt Nam được thiết kế theo lĩnh vực như về lao động, y tế, giáo dục, ưu đãi cho vay vốn, v. cho các đối tượng thụ hưởng.
Từ thực tế này đã tạo ra những hệ lụy nhất định, thể hiện có những chương trình, một đối tượng BTXH đồng thời được thụ hưởng nhiều chính sách, trong khi có những đối tượng BTXH chưa có chương trình nào tiếp cận được. Trong khi đó, với quá nhiều chủ thể có trách nhiệm xây dựng, thực thi chính sách, pháp luật về BTXH và chế phối hợp trách nhiệm giữa các Bộ, ban, ngành, địa phương còn thiếu chặt chẽ. Điều này dẫn đến hậu quả là việc xây dựng, thực thi chính sách, pháp luật về BTXH không đồng bộ, thiếu thống nhất và hiệu quả chưa cao. Chính vì thế, 13 cần phải xây dựng và thực hiện các giải pháp bảo đảm chính sách cho các đối tượng BTXH một cách đồng bộ, có hệ thống; giúp các đối tượng BTXH đều có cơ hội được thụ hưởng chính sách một cách công bằng, có điều kiện thuận lợi để vượt qua những rào cản về đói nghèo, lạc hậu; xây dựng mô hình BTXH tương thích để bảo vệ một bộ phận dân cư/nhóm yếu thế có thể bị loại khỏi hệ thống ASXH, đang phải sống phụ thuộc, bị ngược đãi và có nguy cơ rủi ro rất lớn.
Từ luận giải trên đây có thể hiểu, BTXH là tổng thể các cơ chế, chinh sách, biện pháp, hình thức khác nhau của Nhà nước, các tổ chức, cá nhân tự nguyện trong xã hội nhằm hỗ trợ, giúp đỡ, bảo vệ cho các đối tượng yếu thế do nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến không có khả năng tự lo liệu được cuộc sống, tránh được mối đe dọa của cuộc sống thường nhật, vượt qua những khó khăn, thiếu thốn, đảm bảo tiêu chuẩn tối thiểu về điều kiện sống cho các đối tượng và giảm thiểu sự tác động tiêu cực đến kinh tế, xã hội của nhóm đối tượng yểu thế. Khái niệm Trung tâm Bảo trợ xã hội Từ các góc độ tiếp cận, có nhiều quan niệm khác nhau về trung tâm. Trung tâm có thể được hiểu là phần giữa của một khoảng không gian như Trung tâm thành phố; là nơi tập hợp hay phối hợp nhiều hoạt động như Trung tâm nghiên cứu khoa học; là nơi tập hợp nhiều hoạt động có ảnh hưởng và tác dụng lan tỏa ra từ đó như Trung tâm chính trị, văn hóa của cả nước. Trung tâm cộng đồng là những địa điểm cộng cộng, nơi các thành viên của một cộng đồng người sẽ tụ họp cùng nhau để tham gia các hoạt động tập thể, TGXH, thông tin công cộng cũng như nhiều mục đích khác.
Nó đôi khi được mở ra dành cho toàn bộ cộng đồng hoặc cho một nhóm riêng biệt bên trong một cộng đồng lớn hơn, chứa đựng các yếu tố của một vị trí, vai trò trung tâm.