Phần 7 NGUỒN TÀI TRỢ CỦA DOANH NGHIỆP Chương 16 TỔNG QUAN VỀ NGUỒN TÀI TRỢ CỦA DOANH NGHIỆP 16. KHÁI QUÁT VỀ NGUỒN TÀI TRỢ CỦA DOANH NGHIỆP Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một yếu tố và là tiền đề cần thiết cho việc hình thành và phát triển hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp. Để biến những ý tưởng và kế hoạch kinh doanh thành hiện thực, đòi hỏi phải có một lượng vốn nhằm hình thành nên những tài sản cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp để đạt được mục tiêu đề ra. Do vậy đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức tốt nguồn vốn.
Dưới đây sẽ xem xét tổng quan nguồn vốn của một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Để tổ chức và lựa chọn hình thức huy động vốn một cách thích hợp và có hiệu quả (hay nói cách khác là tìm nguồn tài trợ) cần có sự phân loại nguồn vốn. Dựa vào tiêu thức nhất định có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp thành nhiều loại khác nhau. Thông thường trong công tác quản lý thường sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau: 16.
Nguồn vốn chủ sở hữu và nợ Dựa quan hệ sở hữu vốn có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp thành hai loại: Nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Nợ Tài sản Vốn chủ sở hữu Hình 16.1: Tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp 173 - Nguồn vốn chủ sở hữu Là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, bao gồm số vốn chủ sở hữu bỏ ra và phần bổ sung từ kết quả kinh doanh. Vốn chủ sở hữu tại một thời điểm có thể được xác định bằng công thức sau: Vốn chủ sở hữu = Giá trị tổng tài sản - Nợ phải trả: - Nợ phải trả Là thể hiện bằng tiền những nghĩa vụ mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế khác như: Nợ vay, các khoản phải trả cho người bán, cho Nhà nước, cho người lao động trong doanh nghiệp v. Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao, thông thường một doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn: Vốn chủ sở hữu và nợ phải trả.
Sự kết hợp giữa hai nguồn này phụ thuộc vào đặc điểm của ngành mà doanh nghiệp hoạt động, tuỳ thuộc vào quyết định của người quản lý trên cơ sở xem xét tình hình kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp. Nguồn vốn tạm thời và nguồn vốn thường xuyên. Dựa vào thời gian huy động và sử dụng nguồn vốn có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp ra làm hai loại: Nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời. Tài sản lưu động Nợ ngắn hạn.
Nguồn vốn tạm thời Nợ dài hạn Tài sản Vốn chủ Nguồn vốn thường xuyên cố định sở hữu Hình 16.2: Nguồn vốn tạm thời và nguồn vốn thường xuyên - Nguồn vốn thường xuyên Là tổng thể các nguồn vốn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng vào hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn này thường được sử dụng để mua sắm, hình thành 174 tài sản cố định và một bộ phận tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp tại một thời điểm có thể được xác định bằng công thức: Nguồn vốn thường xuyên của DN = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn Hoặc Nguồn vốn thường xuyên của DN = Giá trị tổng tài sản của DN - Nợ ngắn hạn. Trên cơ sở xác định nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp còn có thể xác định nguồn vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp.
Nguồn vốn lưu động thường xuyên(hay còn gọi là vốn lưu động ròng) là nguồn vốn ổn định có tính chất dài hạn để hình thành hay tài trợ cho tài sản lưu động thường xuyên cần thiết trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (có thể là một phần hay toàn bộ tài sản lưu động thường xuyên tuỳ thuộc vào chiến lược tài chính của doanh nghiệp). Nguồn vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp tại một thời điểm có thể xác định theo công thức sau: Nguồn vốn lưu động Tổng nguồn vốn thường Giá trị còn lại của TSCĐ = - thường xuyên xuyên của doanh nghiệp và các TS dài hạn khác Hoặc có thể xác định bằng công thức sau: Nguồn vốn lưu động thường xuyên = Tài sản ngắn hạn - Nợ ngắn hạn Có thể xem xét nguồn vốn thường xuyên hình sau: Nợ ngắn hạn Tài sản lưu động Nguồn vốn lưu động Nợ trung và thường xuyên Nguồn dài hạn vốn Tài sản cố thường định xuyên Vốn chủ sở của DN hữu 175 Hình 16.3: Nguồn vốn thường xuyên của DN và nguồn vốn LĐ thường xuyên 176 Thí dụ: Theo bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp H có số liệu sau: Bảng 16.1: Trích bảng cân đối kế toán ngày 31/12 năm N của Doanh nghiệp H. Đơn vị: triệu đồng Số cuối Số cuối Tài sản Nguồn vốn kỳ kỳ A. Tài sản ngắn hạn 1.
Nợ phải trả 2. Nợ ngắn hạn 1. Các khoản phải thu 100 - Vay ngắn hạn 800 III. Hàng tồn kho 996 - Nợ phải trả người bán 200 B.
Tài sản dài hạn 2. Nợ dài hạn 1. Tài sản cố định 2. Vốn chủ sở hữu 2.
Vốn chủ sở hữu 2.000 - Giá trị hao mòn luỹ kế (280) II. Nguồn kinh phí và quỹ khác - II. Đầu tư tài chính dài hạn - - Tổng cộng tài sản 4.000 Tổng cộng nguồn vốn 4.000 Từ số liệu trên, có thể xác định: Nguồn vốn lưu động thường xuyên Của doanh nghiệp ở cuối năm N: = 1.000 = 480 triệu đồng Hoặc = (2.520 = 480 triệu Qua xem xét phần trên cho thấy: Nguồn vốn lưu động thường xuyên tạo ra một mức độ an toàn cho doanh nghiệp trong kinh doanh, làm cho tình trạng tài chính của doanh nghiệp được đảm bảo vững chắc hơn. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp sử dụng nguồn vốn lưu động thường xuyên để đảm bảo cho việc hình thành tài sản lưu động thì doanh nghiệp phải trả chi phí cao hơn cho việc 177 sử dụng vốn.
Do vậy, đòi hỏi người quản lý doanh nghiệp phải xem xét tình hình thực tế của doanh nghiệp để có quyết định phù hợp trong việc tổ chức vốn. - Nguồn vốn tạm thời Là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một năm) doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các yêu cầu có tính chất tạm thời phát sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn thường bao gồm vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các nợ ngắn hạn khác. Việc phân loại này giúp cho người quản lý xem xét huy động các nguồn vốn phù hợp với thời gian sử dụng của các yếu tố cần thiết cho quá trình kinh doanh.
Nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài Căn cứ vào phạm vi huy động các nguồn vốn của doanh nghiệp có thể chia thành nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài. Việc phân loại này chủ yếu để xem xét việc huy động nguồn vốn của một doanh nghiệp đang hoạt động. - Nguồn vốn bên trong Là nguồn vốn có thể huy động được vào đầu tư từ chính hoạt động của bản thân doanh nghiệp tạo ra. Nguồn vốn bên trong thể hiện khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp.
Nguồn vốn từ bên trong doanh nghiệp bao gồm: + Lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư. + Khoản khấu hao tài sản cố định. + Tiền nhượng bán tài sản, vật tư không cần dùng hoặc thanh lý TSCĐ Khi sử dụng nguồn vốn bên trong có những điểm lợi và hạn chế chủ yếu sau: * Những điểm lợi: - Chủ động đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp, nắm bắt kịp thời các thời cơ trong kinh doanh Nếu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là tương đối ổn định, các doanh nghiệp 178 có thể dự đoán một cách khá chính xác quy mô lợi nhuận có thể thu được trong năm kế hoạch. Lợi nhuận sau thuế cùng với nguồn khấu hao được hình thành trên cơ sở trích khấu hao tài sản cố định, đã cho phép các doanh nghiệp có thể chủ động hơn trong việc đáp ứng nhu cầu vốn cho các dự án đầu tư.
Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp còn là nguồn tài trợ quan trọng cho các dự án đầu tư có tính mạo hiểm, các dự án có mức độ rủi ro cao như phát triển sản phẩm mới, tìm kiếm thị trường mới… - Tiết kiệm được chi phí sử dụng vốn Việc sử dụng các nguồn vốn bên trong cho phép các doanh nghiệp vừa tiết kiệm thời gian huy động vốn, vừa tiết kiệm nhiều chi phí huy động vốn do không phát sinh các chi phí quảng cáo, hoa hồng bảo lãnh. so với việc huy động vốn qua phát hành chứng khoán. - Giữ được quyền kiểm soát doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu tăng vốn đầu tư dài hạn bằng cách tăng thêm các thành viên góp vốn mới, như phát hành thêm cổ phiếu, gọi vốn liên doanh, hoặc tiếp nhận vốn góp của các thành viên mới thì cũng đồng nghĩa với việc các chủ sở hữu hiện tại của doanh nghiệp chấp nhận việc chia sẻ quyền quản lý và kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp cho các thành viên mới. Điều này sẽ không xảy ra nếu như doanh nghiệp tự tài trợ đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư dài hạn bằng các nguồn vốn bên trong.
- Tránh được áp lực phải thanh toán đúng kỳ hạn Việc sử dụng tối đa nguồn vốn bên trong để tài trợ nhu cầu vốn cho đầu tư giúp cho doanh nghiệp có thể giảm bớt được lượng vốn vay, từ đó giảm được áp lực phải thanh toán đúng kỳ hạn (cả gốc và lãi) cho các chủ nợ nếu như sử dụng vốn vay. Điều đó càng có ý nghĩa giảm bớt căng thẳng về tài chính khi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp gặp khó khăn. Bên cạnh những ưu thế kể trên, việc sử dụng các nguồn vốn bên trong cũng bộc lộ những hạn chế nhất định: Một là, hiệu quả sử dụng vốn thường bị hạn chế Việc không phải hoàn trả vốn gốc và lãi theo kỳ hạn cố định đã không tạo áp lực 179 cho ban lãnh đạo doanh nghiệp trong việc cân nhắc, tính toán hiệu quả sử dụng vốn cho đầu tư. Đây là nguyên nhân quan trọng dẫn đến hiệu quả sử dụng các dự án tài trợ bằng các nguồn vốn bên trong thường đạt hiệu quả không cao so với các dự án tài trợ bằng các nguồn vốn huy động bên ngoài.