CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LUẬT ĐẦU TƯ A. Phân tích khái niệm đầu tư dưới góc độ pháp lý Dưới góc độ pháp lý, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn, tài sản theo các hình thức và cách thức do pháp luật quy định để thực hiện hoạt động kinh doanh nhằm mục đích thu được các lợi ích về kinh tế, xã hội. Hoạt động đầu tư có thể có tính chất kinh doanh hoặc không vì mục đích kinh doanh, thương mại. Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý cũng như trong các thực tiễn xây dựng chính sách, pháp luật về đầu tư, hoạt động đầu tư chủ yếu được đề cập là hoạt động đầu tư kinh doanh với bản chất là đầu tư của cải vật chất nhằm tìm kiếm lợi ích kinh tế trong tương lai.
Phân loại đầu tư theo mục đích đầu tư Căn cứ vào mục đích đầu tư thì đầu tư chia làm 2 loại: Đầu tư phi lợi nhuận và đầu tư kinh doanh - Đầu tư phi lợi nhuận là việc sử dụng trước các nguồn lợi để thực hiện các hoạt động không nhằm mục đích thu lợi nhuận trực tieps cho nhà đầu tư. Nhưng những việc đầu tư này vẫn có thể đem lại lợi ích nhất định cho những cá nhân, tổ chức được hưởng lợi từ việc đầu tư đó. Có một số quan điểm cho rằng đầu tư phi lợi nhuận là đầu tư phát triển vì nó tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội, là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội Ví dụ như Nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội, việc đầu tư không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho nhà nước nhưng mang lại lợi ích cho công dân sử dụng các cơ sở hạ tầng đó. - Đầu tư kinh doanh là việc sử dụng trước các nguồn lực để kinh doanh thu lại lợi nhuận.
Ví dụ như góp vốn thành lập doanh nghiệp để kinh doanh (sản xuất hàng hoá, bán hàng hoá,. Phân loại đầu tư theo nguồn vốn đầu tư Căn cứ vào nguồn vốn đầu tư thì chia thành 2 loại: Đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài Khái niệm đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài được quy định trong luật đầu tư 2005 đến luật đầu tư 2014 và 2020 thì pháp luật đã bỏ quy định này. Tuy nhiên, khi căn cứ vào nguồn vốn đầu tư, đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài thường được hiểu như sau: - Đầu tư trong nước là việc đầu tư được thực hiện bằng các nguồn lực trong nước. Các nguồn lực trong nước là các nguồn lực được huy động từ các nhân có quốc tịch Việt Nam, tổ chức kinh tế không có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông.
- Đầu tư nước ngoài là việc đầu tư được thực hiện bằng các nguồn lực được huy động từ nước ngoài vào Việt Nam. Các nguồn lực được huy động từ nước ngoài là nguồn lực được huy động từ các nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài. Phân tích khái niệm đầu tư kinh doanh Như phần phân loại đầu tư ta thấy đầu tư kinh doanh là một trong nhiều loại đầu tư khác nhau và đầu tư kinh doanh chắc chắn phải đem lại lợi ích cho chính chủ thể đầu tư. Để hiểu được khái niệm đầu tư kinh doanh thì phải tiếp cận trước khái niệm hoạt động thương mại.
Căn cứ theo Điều 3 Luật thương mại 2005 quy định: Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Theo quy định này, đầu tư là một trong những hoạt động của hoạt động thương mại nhằm mục đích sinh lợi. Khoản 8 Điều 3 Luật đầu tư 2020 quy định: Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh Khoản 21 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2020 quy định: Kinh doanh là việc thực hiện liên tục môt, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Theo quy định này thì đầu tư là một công đoạn trong quá trình kinh doanh.
Cả 2 khái niệm hoạt động thương mại và kinh doanh đều nhắc đến đầu tư, mà hoạt động thương mại và kinh doanh thương mại đều nhằm mục đích sinh lợi nên có thể suy ra đầu tư mà 2 khái niệm này nhắc đến chính là đầu tư kinh doanh. Vậy chúng ta cần tìm mối liên quan của 3 vấn đề: Đầu tư kinh doanh, kinh doanh và hoạt động thương mại. - Thứ nhất, đầu tư kinh doanh, kinh doanh hay hoạt động thương mại đều là những hiện tượng nhằm mục đích sinh lợi. Tuy nhiên 3 khái niệm này đều ám chỉ đến các đối tượng khác nhau.
Hoạt động thương mại là danh từ chỉ tên của các hoạt động sinh lợi, sự mua bán hàng hoá, sự cung ứng dịch vụ, sự đầu tư,.: Kinh doanh là động từ chỉ chỉ các chủ thể thực hiện để sinh lợi, như hoạt động mua bán hàng hoá,hành động sản xuất hàng hoá… và đầu tư kinh doanh là động từ chỉ hành động bỏ vốn của nhà đầu tư. Theo logic này thì có thể tạm tìm thấy mối tương quan của 3 khái niệm trên là: Nhà đầu tư bỏ vốn để thực hiện các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực hoạt động thương mại. - Thứ hai, dựa vào 3 khái niệm đầu tư kinh doanh, hoạt động thương mại và kinh doanh ta thấy được sự khác biệt của hoạt động đầu tư kinh doanh với hoạt động thương mại và kinh doanh là đầu tư là hoạt động có tính chất tạo lập nhằm hình thành cơ sở vật chất, tiền đề để tìm kiếm lợi nhuận. Hay nói cách khác, đầu tư chính là tiền đề để tìm kiếm lợi nhuận.
Hay nói cách khác, đầu tư chính là tiền đề của kinh doanh trong hoạt động thương mại. Chúng ta không thể kinh doanh nếu không có vốn. - Thứ ba nếu chỉ xét ở mặt hoạt động của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lợi thì đầu tư là một sự hoạt động thương mại. Ví dụ như doanh nghiệp A ký kết hợp đồng hợp tác bcc với doanh nghiệp B để sản xuất ô tô nhằm phân chia lợi nhuận hoặc phân chia sản phẩm, tên của loại hoạt động thương mại có sinh lợi ở đây là đầu tư, cả doanh nghiệp A và doanh nghiệp B đều đang đầu tư nguồn lực nào đó cho quan hệ hợp tác của mình, và sự đầu tư mối quan hệ hợp tác này sẽ đem lại lợi ích cho cả 2 doanh nghiệp, đó chính là lợi nhuận sau bán hàng hoặc chính là những chiếc ô tô được tạo ra.
Đồng thời xét ở khía cạnh hoạt động doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lợi thì đầu tư cũng chính là hành động kinh doanh. Ví dụ như doanh nghiệp A ký kết hợp đồng hợp tác BCC với doanh nghiệp B để sản xuất ô tô nhằm phân chia lợi nhuận hoặc phân chia sản phẩm, trong đó doanh nghiệp A có trách nhiệm góp tiền , doanh nghiệp B có trách nhiệm góp nhân công, kỹ thuật, nhà máy, cơ sở vật chất để sản xuất ô tô. Như vậy cả 2 đều đang góp nguồn lực nhất định trong mục tiêu chung là sản xuất ô tô. Hành động kinh doanh mà cả doanh nghiệp A và B đang thực hiện là góp vốn - Thứ tư, nếu kết hợp khái niệm đầu tư kinh doanh (khoản 8 điều 3 Luật đầu tư 2020) và khái niệm kinh doanh (Khoản 21 điều 4 Luật doanh nghiệp 2020) có thể phát biểu khái niệm đầu tư kinh doanh theo một cách cụ thể, chi tiết nhất.
Theo đó: Đầu tư kinh doanh là việc các nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện liên tục một hoặc một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Trình bày các lĩnh vực đầu tư hiện nay ở Việt Nam. Trước và sau 01/01/2021, các lĩnh vực đầu tư ở Việt Nam có gì khác? Nhằm thể chế hóa nguyên tắc hiến định về quyền tự do kinh doanh của công dân trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm; hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tạo môi trường đầu tư thuận lợi và minh bạch hơn nữa để huy động có hiệu quả nguồn vốn đầu tư trong nước và đâuf tư nước ngoài; góp phần thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Pháp luật đầu tư quy định nhà đầu tư có quyền thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh trong các ngành nghề mà pháp luật không cấm.
Đối với ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thì nhà đầu tư phải đáp ứng các điều kiện đầu tư kinh doanh theo quy định của pháp luật. Điều 6 Luật đầu tư 2020 quy định về ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh tại Việt Nam bao gồm tám nhóm sau đây: ● Một là kinh doanh các chất ma túy, gồm 47 loại được quy định tại phụ lục 1 ban hành kèm theo luật đầu tư 2020 ● Hai là kinh doanh các loại hoá chất, khoáng vật, gồm 18 loại được quy định tại phụ lục 2 của luật đầu tư 2020. ● Ba là kinh doanh mẫu vật các loài thực vật, động vật hoang dã có nguồn gốc khai thác từ tự nhiên quy định tại phụ lục 1 của công ước về buôn bán quốc tế các loài thực vật, động vật hoang dã nguy cấp, mẫu vật các loài thực vật rừng, động vật rừng, thuỷ sản nguy cấp, quý, hiếm Nhóm 1 có nguồn gốc khai thác từ tự nhiên quy định tại Phụ lục III của Luật đầu tư 2020 gồm 126 loại.