Chương 1 TỔNG QUAN VỀ LUẬT ĐẦU TƯ Hoạt động đầu tư là một hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế của một đất nước. Một đất nước có nền kinh tế tăng trưởng và phát triển là nhờ các chính sách và pháp luật về đầu tư được coi trọng và triển khai thực hiện một cách hiệu quả. Việt Nam là một nước đang phát triển, do vậy, hoạt động đầu tư lại càng được quan tâm thúc đẩy. Từ những năm 80 của thế kỷ XIX, Việt Nam đã xây dựng được hệ thống pháp luật về đầu tư, trong đó bao gồm hai đạo luật cơ bản: Luật Đầu tư (năm 1986) và Luật Đầu tư nước ngoài (năm 1987).
Các văn bản qui phạm pháp luật này đã tạo nên cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thu hút, triển khai các hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam và ra nước ngoài. Hệ thống các qui phạm pháp luật này đã góp phần thu hút được nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước, tạo nên cú hích cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam trong suốt những thập niên vừa qua. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của lĩnh vực đầu tư nói riêng, hệ thống pháp luật về đầu tư của Việt Nam cũng thể hiện rõ sự đổi mới và hoàn thiện trong suốt thời gian vừa qua, phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế. Trong phần này, giáo trình đi vào tìm hiểu khái quát về Luật đầu tư để hiểu rõ hơn về vai trò của pháp luật trong điều chỉnh hoạt động đầu tư (1.
Phần này cũng giúp nhận diện thuật ngữ Luật đầu tư được sử dụng trong giáo trình ở nhiều góc độ khác nhau trước khi đi sâu nghiên cứu Luật đầu tư dưới góc độ một lĩnh vực pháp luật thuộc đối tượng nghiên cứu của môn học Luật đầu tư, trong chương trình đào tạo ngành Luật Kinh tế, bao gồm các nội dung về: Đối tượng điều chỉnh của Luật đầu tư (1.2), phạm vi và phương pháp điều chỉnh (1.3), nguồn của Luật đầu tư (1. KHÁI QUÁT VỀ ĐẦU TƯ VÀ LUẬT ĐẦU TƯ Để hiểu rõ khái niệm Luật đầu tư, trước tiên chúng ta cần tìm hiểu về đầu tư. Đối với mỗi nền kinh tế, đầu tư là hoạt động quan trọng tạo ra của cải vật chất mới cho xã hội, là yếu tố thúc đẩy sự phát triển của một nền kinh tế. Để hiểu rõ về hoạt động này, cần tìm hiểu khái niệm đầu tư cũng như các loại hình đầu tư và vai trò của đầu tư đối với chủ thể thực hiện nói riêng và đối với nền kinh tế nói chung.
Chính nhu cầu điều chỉnh hoạt động đầu tư tạo nên sự hình thành của pháp luật về đầu tư. Do đó, phần nội dung tiếp theo sẽ đi vào tìm hiểu khái niệm Luật đầu tư ở các góc độ khác nhau. Khái quát về đầu tư a. Khái niệm đầu tư Đầu tư có thể tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau.
Tương ứng với từng góc độ tiếp cận, đầu tư sẽ có thể có những cách hiểu khác nhau. Trong kinh tế học vĩ mô, đầu tư được hiểu là sự bỏ vốn ra cùng với các nguồn lực khác (máy móc, sức lao động, trí tuệ,.) trong hiện tại để tiến hành một hoạt động nào đó hoặc tạo ra hay khai thác sử dụng một tài sản nào đó nhằm thu về các kết quả có lợi trong tương lai, ví dụ việc mua máy móc, thiết bị, cây cối, nhà xưởng nhằm mục đích sản xuất được coi là đầu tư. Ở góc độ này, đầu tư cũng có thể được hiểu là sự hy sinh giá trị chắc chắn ở hiện tại để đạt được giá trị lớn hơn, dù có thể không chắc chắn, trong tương lai. Ở góc độ tài chính, đầu tư là việc mua một tài sản với hy vọng sẽ tạo ra thu nhập hoặc sự đánh giá cao trong tương lai và được bán với giá cao hơn.
Đầu tư cũng có thể được hiểu là chuỗi hành động chi của các chủ thể nhằm đạt đến chuỗi hành động thu để hoàn vốn và sinh lời. Theo nghĩa này, đầu tư không bao gồm các khoản tiền tiết kiệm gửi tại ngân hàng hay các tổ chức tín dụng. Thuật ngữ đầu tư thường được sử dụng khi thực hiện một hoạt động mang tính dài hạn, với mức độ rủi ro cao. 14 Đầu tư trong cách hiểu của kinh tế học hướng tới sự gia tăng khối lượng tư bản hay năng lực sản xuất của nền kinh tế.
Trong khi đó, đầu tư trong tài chính hướng tới sự chuyển giao quyền sở hữu tài sản hiện có từ thể nhân, pháp nhân này sang thể nhân, pháp nhân khác. Đầu tư cũng có thể hiểu là một hoạt động thương mại, tức là hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận, bên cạnh các hoạt động thương mại khác như mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, xúc tiến thương mại,. Đây là cách hiểu mà Luật Thương mại 2005 của Việt Nam đang hướng theo khi qui định hoạt động thương mại là mọi hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm cả hoạt động đầu tư (khoản 1, Điều 3, Luật Thương mại 2005). Cách hiểu này cũng được một số tổ chức quốc tế áp dụng như WTO, UNCITRAL.
Theo đó, đầu tư thuộc nội hàm của hoạt động thương mại. Dù có thể có nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng tựu chung, các khái niệm về đầu tư đều giống nhau ở một điểm, đó là đều hướng tới sự gia tăng lợi ích trong tương lai bằng việc hy sinh các nguồn lực ở hiện tại. Lợi ích đó có thể là lợi ích kinh tế hoặc lợi ích xã hội tùy vào mục đích thực hiện của hoạt động đầu tư. Để đánh giá sự gia tăng lợi ích của đầu tư, người ta có thể sử dụng các tiêu chí khác nhau.
Trong sản xuất kinh doanh, người ta có thể sử dụng tiêu chí lợi nhuận, được hiểu là chênh lệch giữa thu nhập đem lại với chi phí bỏ ra để tiến hành hoạt động đầu tư. Ở tầm vĩ mô, các tiêu chí như tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP), gia tăng số lượng việc làm, tài sản mới được tạo ra. lại thường được sử dụng. Xét ở góc độ pháp luật, đầu tư là quyền của cá nhân, tổ chức được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Để thực hiện đầu tư, các chủ thể này đem vốn, tài sản hợp pháp ban đầu mình để thực hiện hoạt động theo các hình thức được pháp luật qui định. Theo đó, pháp luật Việt Nam hiện hành hướng tới việc điều chỉnh hoạt động đầu tư nhằm mục đích sinh lời, hay còn gọi là đầu tư kinh doanh. Căn cứ vào Luật Đầu tư năm 2014, đầu tư kinh doanh được hiểu là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt 15 động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư (khoản 5, Điều 3). Kết hợp với Luật Doanh nghiệp 2014, kinh doanh được hiểu là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời (khoản 16, Điều 4).
Như vậy, đầu tư có thể được hiểu là giai đoạn khởi đầu của quá trình kinh doanh. Để thực hiện hoạt động kinh doanh, nhà đầu tư sẽ trang bị cơ sở vật chất, máy móc, thiết bị, nhà xưởng. Lúc này, hoạt động đầu tư được coi là nền tảng để thực hiện các hoạt động kinh doanh, thương mại khác. Hoạt động đầu tư kinh doanh chỉ được thực hiện theo các hình thức mà pháp luật qui định và vào những ngành nghề, lĩnh vực mà nhà nước không cấm.
Pháp luật mỗi quốc gia sẽ có những qui định không cho phép thực hiện đầu tư hoặc hạn chế đầu tư kinh doanh trong một số những lĩnh vực hoạt động nhất định, bên cạnh những lĩnh vực mà quốc gia đó ưu tiên phát triển với các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ đầu tư. Như vậy, theo nghĩa chung nhất, đầu tư được hiểu là việc sử dụng vốn hay nguồn lực vào một hoặc một số hoạt động nhất định, dưới các hình thức nhất định, nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận và/hoặc nhằm gia tăng lợi ích kinh tế - xã hội. Từ những phân tích nêu trên, có thể thấy đầu tư kinh doanh có bốn đặc điểm cơ bản sau: - Thứ nhất, đây là hoạt động sử dụng tài sản hay vốn ban đầu của nhà đầu tư: Tài sản được sử dụng để đầu tư bao gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình được pháp luật công nhận. Để thực hiện đầu tư, các nhà đầu tư cần phải sử dụng những tài sản thuộc sở hữu hoặc thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình.
Nói một cách khác, tài sản được đem ra để thực hiện hoạt động đầu tư phải là các tài sản hợp pháp của nhà đầu tư. Đối với các tài sản mà nhà đầu tư có quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp, nhà đầu tư sẽ được pháp luật bảo vệ. 16 - Thứ hai, đầu tư là hoạt động mang tính chất lâu dài: Thông thường, hoạt động đầu tư hướng tới các mục tiêu trong tương lai trung và dài hạn. Thời gian thực hiện hoạt động đầu tư thường kéo dài, có thể là 5 năm, 10 năm hoặc có thể kéo dài nhiều hơn.
Đây là đặc điểm quan trọng để phân biệt hoạt động đầu tư nhằm mục đích lợi nhuận với các hoạt động thương mại khác. Trong trường hợp này, dù cả hai hoạt động đều hướng tới mục đích lợi nhuận, nhưng tính dài hạn của quá trình thực hiện tạo nên điểm khác biệt giữa hai hoạt động này. Có thể lấy ví dụ, nếu như hoạt động mua, bán hàng hóa nhằm hướng tới lợi nhuận được hoàn thành bằng việc mua hàng và thanh toán tiền hàng trong thời gian ấn định thì hoạt động đầu tư lại kéo dài với việc tổ chức thực hiện phức tạp hơn để đạt được mục tiêu đặt ra. - Thứ ba, đầu tư chứa đựng rủi ro: Do đầu tư là hoạt động phải bỏ ra nguồn lực ban đầu để hướng tới kết quả trong tương lai nên hoạt động này gắn liền với rủi ro, mạo hiểm.
Có thể nói, rủi ro luôn là yếu tố song hành của đầu tư và các nhà đầu tư luôn phải đối mặt với nó trong suốt quá trình thực hiện hoạt động đầu tư.