Chương 1: Tổng quan về logistics kinh doanh thương mại 1.1 Khái quát về logistics kinh doanh thương mại 1. Logistics Dịch vụ logistics đã xâm nhập vào nước ta khá lâu nhưng người Việt ta chưa thật sự quen với thuật ngữ này, mặc dù đâu đó trong các trang mục quảng cáo về dịch vụ giao nhận, tuyển dụng nhân viên… ó đề cập đến dịch vụ logistic, nhân viên logistic…Cách đây vài thế kỷ, thuật ngữ logistic được sử dụng trong quân đội với tư cách là một cách thức tổ chức cung ứng tương đối giống “ dịch vụ hậu cần” trong các đơn vị quân đội ngày nay, và đã từng được hoàng đế Napoleon nhắc đến trong câu nói nổi tiếng “ kẻ nghiệp dư bàn về chiến thuật, người chuyên nghiệp bàn về logistic” để nhấn mạnh đến tầm quan trọng của dịch vụ này. Sau này, do sự phát triển mạnh về khoa học kỹ thuật, khoa học quản lý, phương pháp quản trị sản xuất, kinh doanh, giao thông vận tải, thông tin liên lạc…đã làm cho logistic có bộ mặt mới và có thể thay đổi về chất so với bản chất nguyên thuỷ ban đầu là cung ứng “ dịch vụ hậu cần” của nó. Thuật ngữ Logistics-logistics xuất hiện trước hết trong lĩnh vực quân sự, bao gồm các hoạt động đảm bảo nguồn lực vật chất, nhân lực cho quân đội Logistics là ngành khoa học quân sự có liên quan đến các hoạt động tập trung, dự trữ và vận chuyển vật t, con người và các phương tiện vật chất.
(Guralnik, David B, ed, Webster/s mw wold Dictionary of Americần language. 2nd College edition - New york Simon & Schusten, 1980). Định nghĩa này không phù hợp với lĩnh vực kinh doanh do khác nhau về mục tiêu và hoạtđộng. Theo Hội đồng quản trị logistics của Mỹ (CLM - Council of Logisticmởnagement) thì: Logistics là quá trình hoạch định, thực thi và kiểm tra dòng vận động và dự trữ một cách hiệu quả của vật liệu thô, dự trữ trong quá trình sản xuất, thành phẩm và thông Theo quy định tại Điều 233 của Luật thương mại ( LTM ) 2005: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi mã ký hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao”.
Như vậy nói một cách đơn giản, dịch vụ logistics là việc thực hiện và kiểm soát hàng hoá cùng những thông tin có liên quan từ nơi hình thành nên hàng hoá đến nơi tiêu thụ hàng hoá cuối cùng. Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao. Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô-gi-stíc. Kinh doanh thương mại Thương mại là hoạt động trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ, kiến thức, tiền tệ v.v giữa hai hay nhiều đối tác, và có thể nhận lại một giá trị nào đó (bằng tiền thông qua giá cả) hay bằng hàng hóa, dịch vụ khác như trong hình thức thương mại hàng đổi hàng (barter).
Trong 2 quá trình này, người bán là người cung cấp của cải, hàng hóa, dịch vụ. cho người mua, đổi lại người mua sẽ phải trả cho người bán một giá trị tương đương nào đó. Kinh doanh (tiếng Anh: Business) là hoạt động của cá nhân hoặc tổ chức nhằm mục đính đạt lợi nhuận qua một loạt các hoạt động Kinh doanh là phương thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hoá, gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương tiện mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình (bao gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận tải, thương mại, dịch vụ.) trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời cao nhất. Logistic kinh doanh thương mại Logistic kinh doanh thương mại là quá trình phân phối hàng hóa thông qua hành vi thương mại (mua, bán) bao gồm việc hoạch định, thực thi, kiểm tra dòng vận động của hàng hóa, dịch vụ và thông tin từ lĩnh vuực sản xuất đến lĩnh vực tiêu dùng nhằm thỏa mãn nhu cầu mua hàng của khách hàng và thu được lợi nhuân Như vậy - Logistics là quá trình quản trị, là chức năng quản trị cơ bản của doanh nghiệp - Logistics thương mại là quá trình dịch vụ khách hàng thông qua các hành vi mua bán hàng hóa - Nhu cầu của khách hàng là nhu cầu mua hàng cụ thể qua: những lợi ích khi múa hàng – dịch vụ khách hàng về mặt số lượng cơ cấu, chất lượng; nhu cầu dịch vụ về thời gian, tốc độ, độ ổn định, tính linh hoạt,; nhu cầu dịch vụ về địa điểm; nhu cầu lựa chọn hàng hóa; nhu cầu dịch vụ bổ sung 1.2 Bản chất của logistics kinh doanh thương mại Thông qua định nghĩa, thì rõ ràng, bản chất của logistics là dịch vụ khách hàng - là quá trình cung cấp các giá trị gia tăng cho khách hàng trong hệ thống kênh phân phối hàng hoá với hiệu lực chi phí cao nhất.
Khách hàng của logistics là bất kỳ những ai được cung ứng hàng hoá. Trong kinh doanh thương mại, khách hàng của logistics bán lẻ (và cũngg là của kinh doanh thương mại bán lẻ ) là ngời tiêu dùng và hộ gia đình; khách hàng của logistics bán buôn (và cũngg là của kinh doanh thương mại bán buôn ) là các doanh nghiệp thương mại bán lẻ, hoặc các doanh nghiệp thương mại bán buôn khác, các khách hàng công nghiệp, khách hàng chính phủ. Sản phẩm của logistics là dịch vụ kháchhàng và do đó sản phẩm của kinh doanh thương mại chính là dịch vụ hậu cần-dịch vụ khách hàng. Khác với các loại dịch vụ thông thờng, dịch vụ logistics luôn luôn gắn với đối tượng vật chất hữu hình - hàng hoá, là quá trình sáng tạo, cung ứng các giá trị gia tăng trong hệ thống kênh phân phối hàng hoá.3 Nội dung của quản trị logistics kinh doanh thương mại 1.Quản trị các hoat động then chốt - Các tiêu chuẩn dịch vụ khách hàng kết hợp vớimởrketing: xác định nhu cầu- Xác định sự đáp ứng – chọn mức dịch vụ - Vận tải: phương thức vận tải, mức dịch vụ - phối hợp vận chuyển- lựa chọn tuyến đường – xác địnhhanh trình- lựa chọn phương tiện – xử lý yêu cầu- xác định và kiểm soát chi phí - Quản trị dự trữ: chính sách dự trữ, - dự báo- cơ cấu hàng dự trữ - chiến lược dự trữ 3 - Quá trình cung cấp hàng hóa cho khách hàng : cung cấp hàng hoa cho khách mua buôn , mua lẻ 2.
Các hoạt động hỗ trợ - Quá trình kho - Bảo quản hàng hóa - Quá trình mua hàng - Bao bì và bao gói hàng hóa - Quá trình nghiệp vụ, công nghệ tài cưả hàng - Đảm bảo thông tin 1.2- Những đặc trưng cơ bản của logistics kinh doanh thương mại. Logistics kinh doanh thương mại là một loại hình dịch vụ khách hàng, và do đó có những đặc điểm chung của các loại dịch vụ. Tổng hợp những đặc điểm chung và riêng của logistics kinh doanh thương mại là những đặc trưng sau: 1.1 Luôn luôn gắn liền với sự vận động của hàng hoá. Đây là đặc trưng cơ bản của hậu cần.
Logistics kinh doanh thương mại tuy là dịch vụ, nhng luôn luôn được tiến hành cùng với hàng hoá - đối tượng vật chất hữu hình. Nh vậy, dịch vụ logistics phụ thuộc vào nhu cầu tiêu dùng về hàng hoá của khách hàng, đồng thời đó c đẩy nhu cầu tiêu dùng về hàng hoá. Chính vì vậy, quản trị hiệu quả logistics kinh doanh thương mại trước hết phải quản trị tốt dịch vụ mặt hàng kinh doanh, bao gồm cả việc mua hàng và dự trữ hàng hoá.2 Đặc trưng thống nhất của các nghiệp vụ hậu cần Quá trình logistics kinh doanh thương mại là hệ thống các nghiệp vụ có mối liên hệ chặt chẽ, thống nhất, bắt đầu từ việc mua hàng ở nguồn hàng, vận chuyển, bảo quản ở trong kho, cửa hàng và kết đó c khi hàng hoá được phân phối và bán cho khách hàng. Quá trình nghiệp vụ logistics thống nhất vào dòng dự trữ và thông tin, thể hiện ở hình 1 (H.
Dòng dự trữ Nghiệp vụ Nguồn hàng Mua hỗ trợ Bán Khách hàng Dòng thông tin 4 Dòng dự trữ là quá trình vận động của hàng hoá từ khi mua hàng ở các nguồn hàng và kết đó c khi hàng hoá được bán cho khách hàng. Dòng thông tin logistics (LIS) bao gồm: dòng hoạch định phối hợp và dòng nghiệp vụ. Nh vậy, giữa các yếu tố của quá trình quản trị và nghiệp vụ có mối liên hệ thông tin chặt chẽ.3- Đặc trưng chu kỳ của quá trình hậu cần Chu kỳ nghiệp vụ logistics là đơn vị cơ sở để phân tích hệ thống hậu cần. Nghiên cứu chu kỳ nghiệp vụ logistics cho ta tổng quan động thái, ranh giới và các quyết định liên quan, phối hợp với nhau để tăng cờng hệ thống nghiệp vụ.
Ở cấp cơ sở, nguồn hàng, doanh nghiệp thương mại và khách hàng liên kết với nhau bằng truyền tin và vận chuyển. Những vị trí hợp lý mà các chu kỳ hoạt động nghiệp vụ liên kết với nhau được coi là "nót". Ởcác "nót", chu kỳ nghiệp vụ đòi hỏi phải có dự trữ. Về bản chất, cấu trúc chu kỳ nghiệp vụ logistics là hệ thống thực thi logistics thống nhất; chu kỳ nghiệp vụ logistics là đơn vị cơ sở để thiết kế và kiểm tra nghiệp vụ Có 3 quan điểm quan trọng để nắm vững cấu trúc hệ thống logistics thống nhất: - Chu kỳ nghiệp vụ là đơn vị cơ sở để phân tích các chức năng hậu cần.
- Cấu trúc chu kỳ nghiệp vụ về cơ bản là không thay đổi dù chúng có liên hệ với các chu kỳ khác nhau. - Bất kể cấu trúc hệ thống logistics có rộng và phức tạp nh thế nào đi chăng nữa thì ranh giới bản chất và quá trình quản trị phải được xác định và đánh giá trong phạm vi từng chu kỳ khi nghiên cứu tổng hợp quá trình.