MỞ ĐẦU Trong lĩnh vực dược phẩm có nhiều loại thuốc, đặc biệt là các loại thuốc điều trị bệnh ung thư, có những hạn chế làm giảm tác dụng điều trị như khả năng hòa tan trong nước kém, nồng độ của thuốc giảm nhanh sau khi đi vào cơ thể, gây ra những tác dụng hóa học không mong muốn hay thuốc phân bố trải rộng khắp cơ thể, thiếu chọn lọc với các mô bị bệnh khiến các mô bình thường cũng bị ảnh hưởng. Chính các hạn chế này đã thúc đẩy đông đảo các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, phát triển các loại thuốc mới, các phương pháp dẫn truyền thuốc, hệ nano mang thuốc hướng đích,. Công nghệ nano là một công nghệ tiên tiến, bao gồm quá trình tổng hợp, gia công các hạt nano và ứng dụng chúng trong khoa học, đời sống [2]. Do những đặc tính có được từ cỡ hạt, tính chất hóa lý của vật liệu tạo hạt, công nghệ nano đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu, ứng dụng rộng rãi của các ngành khoa học, trong đó có ngành công nghệ dược phẩm.
Nhiều hệ mang thuốc với kích thước nano như liposome, các hạt micelle polymer, các hạt nano dendrimer và các tinh thể nano được phát triển. Các hệ dẫn truyền thuốc này đã cải thiện được phần nào hiệu quả trong công nghệ bào chế thuốc. Ví dụ, hạt micelle được tạo bởi các phân tử polymer nhờ cấu trúc đặc trưng với nhân chứa thuốc có thể kéo dài thời gian tuần hoàn và ổn đinh của thuốc. Tuy nhiên, các hệ micelle polymer còn có hạn chế vì hiệu quả mang thuốc, số lượng hạt cũng như độ bền thấp trong môi trường nước, thậm trí chúng có thể bị phân ly trong khi pha loãng.
Tương tự, liposome, được phát minh từ những năm 1960, có cấu trúc dạng cầu gồm một hoặc nhiều lớp lipid bao quanh một nhân nước. Có một số loại thuốc được sản xuất dựa trên công thức này được thị trường dược phẩm chấp nhận. Tuy nhiên, một số hạn chế của liposome cũng được báo cáo là không hoạt động như mong đợi trong cơ thể sống, có hiện tượng thiếu ổn định, hiệu quả tải thuốc thấp, không bền trong môi trường máu và khả năng lưu trữ, bảo quản thấp. Vì vậy, chỉ có rất ít các công thức dạng liposome được ứng dụng trong thực tế.
Dendrimer, được báo cáo là vật liệu có nhiều tiềm năng mang thuốc có tính chọn lọc. Dendrimer đã được ứng dụng mang các thuốc như methotrexate – một loại thuốc chống ung thư, các thuốc ngăn ngừa HIV hoặc làm tăng hoạt tính sinh học của pilocarpine chữa các bệnh về thị giác. Nghiên cứu còn khẳng định vật liệu 2 dendrimer ngoài các đặc tính thông thường của vật liệu mang thuốc như có kích thước nhỏ, dễ dàng vượt qua màng tế bào, dễ dàng được gắn các tác nhân nhằm vận chuyển thuốc tới mô đích cần điều trị, dendrimer còn có thể khắc phục được một số nhược điểm của liposome như có khả năng mang được lượng thuốc lớn hơn, hay cấu trúc hạt có sự ổn định hơn. Tuy nhiên, dendrimer cũng được báo cáo là có độc tính cao, cơ chế giải phóng nucleic acid (được mang bởi dendrimer) gặp nhiều khó khăn [3-5].
Các hạt nano được tạo ra từ polymer đang được nghiên cứu rộng rãi cho vai trò làm vật liệu dẫn truyền thuốc trong cơ thể, chúng có chức năng đặc biệt khi dẫn truyền thuốc một cách có mục tiêu, vận chuyển các phân tử thuốc đến đúng các mô bị bệnh, và với đặc tính cỡ hạt, nano polymer có tất cả các lợi thế của các liposome. Nhưng không giống liposome, các hạt polymer với kích thước nano có thời gian tồn tại lâu hơn và mang được nhiều các phân tử thuốc hơn. Một số nghiên cứu cũng nhận thấy rằng số lượng hạt nano đi qua mô ruột lớn hơn các hạt cỡ micro (> 1 µm). Các polymer có nguồn gốc tự nhiên, có tính tương thích sinh học là những ứng cử viên tốt cho vai trò làm vật liệu mang thuốc, chúng được kỳ vọng sẽ còn nguyên vẹn sau khi thấm qua thành ruột khi cung cấp theo đường miệng đi vào cơ thể [6].
Các báo cáo liên quan vật liệu mang thuốc với cấu trúc nanogel – có bản chất là một hydrogel với kích thước hạt cỡ nano do sự hình thành liên kết ngang của phân tử polymer ưa nước. Các liên kết ngang hóa học hoặc hóa lý giữa các polymer tổng hợp hoặc polymer có nguồn gốc sinh học tạo thành các nanogel. Nanogel được báo cáo là vật liệu có nhiều lợi thế như: Có thể kiểm soát được kích thước hạt trong quá trình điều chế; có thể mang được tất cả các thuốc có tính chất kỵ nước cũng như ưa nước và có khả năng kiểm soát cũng như duy trì sự nhả chậm của thuốc – đây là lợi thế lớn nhất của vật liệu nanogel trong ứng dụng dẫn truyền thuốc [7]. Những ưu điểm này đã hình thành hướng nghiên cứu tìm kiếm các polymer phù hợp với từng loại thuốc, trong đó các polymer nguồn gốc tự nhiên có tiềm năng ứng dụng.
Gelatin là một polymer tự nhiên, có nhiều trong da và xương động vật, giá thành không đắt, dễ bị phân hủy bởi vi khuẩn, không độc hại về mặt sinh học và là một polyampholyte với đặc điểm cấu trúc có cả hai nhóm cationic (-NH2OH), anionic (- COOH) cùng với cấu trúc có đặc tính hút nước làm cho thể tích tăng lên nhưng vẫn giữ 3 nguyên cấu trúc tạo thành cấu trúc gel. Các đặc tính này có thể được ứng dụng tạo nên các dẫn xuất có thể mang và dẫn truyển các loại thuốc có độ hòa tan kém trong nước hay có tích điện trái dấu với gelatin [5]. Pluronic là một nhóm các polymer như F127, P123, F68, F87, có đặc điểm cấu trúc gồm nhóm ưa nước ethylene oxide (EO) và nhóm kỵ nước propylene oxide (PO) được sắp xếp theo cấu trúc bậc ba EOx-POy-EOx và thường được ký hiệu là (PEO-PPO-PEO), cấu trúc các pluronic đều giống nhau, chỉ khác nhau số x, y và biến đổi trong khoảng giá trị 2 – 130 và 16 – 70 phần. Pluronic là nguyên liệu an toàn, đã được Cục An toàn Dược phẩm và Thực phẩm Hoa kỳ chấp thuận ứng dụng trong lĩnh vực dược phẩm và y học [8].
Tuy nhiên, gelatin và pluronic có nguồn gốc tự nhiên nên hệ copolymer này cũng có những hạn chế như điều kiện bảo quản không tốt sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của hệ nanogel, quá trình tinh sạch hệ nanogel tổng hợp bị ảnh hưởng bởi điều kiện thực nghiệm và khả năng mang thuốc phụ thuộc chủ yếu vào gốc pluronic ghép vào khung gelatin. Trải qua quá trình nghiên cứu, tổng hợp tài liệu, tôi chọn hướng nghiên cứu tổng hợp các dẫn xuất của gelatin điều chế vật liệu nanogel ứng dụng dẫn truyền thuốc và thực hiện đề tài: “Tổng hợp và đánh giá hoạt tính các hệ gelatin Pluronic nanogel mang quercetin kết hợp thuốc chống ung thư”. Mục tiêu của luận án: Nghiên cứu, tổng hợp hệ vật liệu nanogel ứng dụng dẫn truyền thuốc trên cơ sở kết hợp gelatin và pluronic nhằm kết hợp các đặc tính ưu việt của cả hai nguyên liệu trong vai trò mang và nhả các phân tử thuốc quercetin, paclitaxel. Nghiên cứu cũng tiến hành ghép tác nhân hướng đích (folic acid) lên phân tử copolymer tổng hợp được với mong muốn tạo vật liệu mới có thể vận chuyển thuốc tới các mô bị bệnh trong cơ thể, từ đó nâng cao được hiệu quả điều trị, hạn chế được những tác dụng phụ của thuốc.
Cụ thể, các hạt nano phải đạt được các yêu cầu cơ bản như có dung lượng chứa thuốc lớn, có khả năng vận chuyển và giải phóng thuốc một cách chọn lọc tới đúng vị trí xác định – là các cơ quan, các mô, hoặc các tế bào của cơ thể, nơi cần đến sự hoạt động của thuốc nhằm mục đích trị liệu. Luận án tập trung giải quyết các vấn đề gồm khảo sát tìm loại pluronic, cũng như tỷ lệ của chúng nhằm tạo ra cấu trúc hạt nanogel theo yêu cầu về mặt 4 cấu trúc, kích thước hạt, khả năng mang quercetin, paclitaxel và khả năng giải phóng thuốc có kiểm soát. Bên cạnh đó, các thí nghiệm in vitro và in vivo cũng được tiến hành nhằm đánh giá hiệu quả tiêu diệt tế bào ung thư của vật liệu nanogel mang quercetin, paclitaxel có gắn tác nhân hướng đích làm cơ sở so sánh với hiệu quả khi sử dụng hai loại thuốc này ở dạng tự do. Để đạt được những mục tiêu trên, luận án đã thực hiện các nội dung sau: Nội dung 1: Tổng hợp các copolymer trên cơ sở gelatin ghép Pluronic P123, F127, F87 và F68 với các tỉ lệ ghép khác nhau, tìm tỷ lệ ghép tối ưu, có gắn tác nhân hướng đích folic acid.
Nội dung 2: Đánh giá cấu trúc, kích thước hạt, nồng độ tạo micelle (CMC), thế Zeta bề mặt hạt, hiệu suất tổng hợp copolymer. Nội dung 3: Khảo sát khả năng nang hóa quercetin và paclitaxel của nanogel. Từ đó chọn ra hệ nanogel mang thuốc tốt nhất để tiến hành các thử nghiệm tiếp theo. Nội dung 4: Đánh giá khả năng giải phóng thuốc của các vật liệu mang nanogel tổng hợp ở điều kiện môi trường: pH = 7,4; pH = 5,5; nhiệt độ 37 oC trong dung dịch đệm PBS (Phosphate Buffered Saline).
Nội dung 5: Đánh giá in vitro hiệu quả tiêu diệt tế bào ung thư của hệ nanogel mang thuốc. Nội dung 6: Đánh giá in vivo hiệu quả tiêu diệt tế bào ung thư của hệ nanogel mang thuốc. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn: Thành công của đề tài có thể đóng góp giải pháp hiệu quả cho lĩnh vực công nghệ dược phẩm, giúp bào chế ra các loại dược phẩm tốt hơn theo hướng tổng hợp các vật liệu mang mới nhằm cải thiện sinh khả dụng của các loại thuốc kém tan trong nước cũng như khắc phục các tác dụng phụ mà thuốc gây ra. Kết quả của đề tài đã được ứng dụng thử nghiệm trên mô hình chuột mang khối u ghép dị loài sẽ làm nền tảng ứng dụng cho các nghiên cứu sâu hơn trong lâm sàng.
Đồng thời, các nội dung nghiên cứu, các phương pháp thực hiện đề tài, và kết quả thí nghiệm thu được sẽ góp phần cung cấp cơ sở lý luận cho các nghiên cứu liên quan tiếp theo. Giới thiệu về nanogel 1. Khái niệm và ứng dụng nanogel Nanogel là các hạt có kích thước nano được hình thành bởi mạng lưới các polymer liên kết với nhau thông qua liên kết hóa học hoặc tương tác hóa lý. Các hạt nanogel có tính chất trương nở tốt trong dung môi.