Tổng quan nghiên cứu

Mỗi năm, hoạt động sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam thải ra hơn 97 triệu tấn phụ phẩm sinh khối chưa được tận dụng triệt để. Riêng đối với cây thanh long, sản lượng toàn quốc năm 2023 đạt gần 1,4 triệu tấn và ước tính tiếp tục tăng lên mức 1,7 triệu tấn vào năm 2025. Trong đó, tỉnh Bình Thuận là vùng trồng trọng điểm với sản lượng cung ứng trên 500.000 tấn mỗi năm. Quá trình cắt tỉa cành định kỳ nhằm kích thích ra hoa và phòng ngừa sâu bệnh phát sinh hàng chục nghìn tấn nhánh thanh long tươi. Nguồn phế phẩm này nếu không được xử lý khoa học sẽ gây tắc nghẽn dòng chảy, ô nhiễm môi trường và gia tăng phát thải khí nhà kính. Mặt khác, ngành công nghiệp dệt may và nhuộm màu đang xả thải khối lượng lớn thuốc nhuộm azo độc hại, đặc biệt là methyl orange với liên kết –N=N– bền vững, gây suy thoái hệ sinh thái thủy sinh và đe dọa trực tiếp đến sức khỏe con người.

Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kỹ thuật hóa học do học viên Trần Thanh Phong thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Nguyễn Văn Dũng tại Trường Đại học Bách Khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã giải quyết trọn vẹn bài toán kép này. Mục tiêu nghiên cứu là tận dụng nguồn phụ phẩm nhánh thanh long để tổng hợp vật liệu than hoạt tính từ tính thông qua phương pháp nhiệt phân một bước, đồng thời ứng dụng vật liệu làm chất xúc tác hoạt hóa persulfate để phân hủy phẩm màu methyl orange. Được triển khai thực nghiệm từ tháng 9 năm 2023 đến tháng 12 năm 2023, nghiên cứu đã chế tạo thành công vật liệu có khả năng làm mất màu methyl orange đạt hiệu suất 89,7 ± 0,4% sau 180 phút oxy hóa và duy trì độ bền 54,6 ± 17,8% sau 5 chu kỳ tái sử dụng. Công trình đóng góp giải pháp công nghệ xanh, vừa nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản Việt Nam vừa xử lý nước thải công nghiệp hiệu quả.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết các quá trình oxy hóa nâng cao và cơ chế xúc tác dị thể Fenton cải tiến. Khi persulfate với thế oxy hóa chuẩn 2,01 V đến 2,1 V được hoạt hóa bởi tâm sắt kim loại hóa trị không hoặc ion sắt trên bề mặt than, liên kết peroxide bị bẻ gãy để sản sinh các gốc tự do sulfate có thế oxy hóa cực cao từ 2,5 V đến 3,1 V. Gốc tự do này tấn công mạnh mẽ vào cấu trúc mang màu của methyl orange để khoáng hóa thành các chất vô hại như CO2, H2O và muối khoáng. Cấu trúc mao quản và diện tích bề mặt của than hoạt tính được đánh giá thông qua mô hình hấp phụ đẳng nhiệt Brunauer-Emmett-Teller và mô hình phân bố kích thước lỗ xốp Barrett-Joyner-Halenda. Động học của phản ứng phân hủy quang hóa được mô hình hóa theo phương trình động học bậc nhất biểu kiến kết hợp với phương trình Arrhenius nhằm xác định năng lượng hoạt hóa của quá trình chuyển hóa.

Bốn khái niệm then chốt chi phối toàn bộ nội dung nghiên cứu bao gồm: Than hoạt tính từ tính là vật liệu composite kết hợp giữa khung carbon xốp và hạt nano sắt mang từ tính; Quá trình hoạt hóa persulfate là chuỗi phản ứng kích hoạt giải phóng gốc tự do sulfate; Thuốc nhuộm azo methyl orange là hợp chất hữu cơ vòng thơm bền màu chứa liên kết nitơ đôi; và Tính chất siêu thuận từ là trạng thái từ tính cho phép vật liệu phản ứng mạnh với từ trường ngoài nhưng không bị lưu từ sau khi ngắt từ trường.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn nguyên liệu ban đầu là nhánh thanh long tươi thu gom tại tỉnh Bình Thuận, được cắt nhỏ, rửa sạch tạp chất, phơi khô tự nhiên đến khối lượng không đổi và nghiền mịn. Cỡ mẫu thực nghiệm được chuẩn hóa cố định ở mức 4,00 g bột nhánh thanh long khô cho mỗi mẻ tổng hợp, phối trộn với muối FeCl3.6H2O theo các tỷ lệ khối lượng từ 0,1 đến 0,4 gam trên mỗi gam sinh khối và 8,00 g chất hoạt hóa KOH trong 100 mL nước cất. Hỗn hợp được sấy khô ở 105 độ C trong 48 giờ trước khi đưa vào nung nhiệt phân một giai đoạn trong lò ống ở 600 độ C trong 1 giờ dưới môi trường khí nitơ bảo vệ với lưu lượng 0,25 lít trên phút và tốc độ gia nhiệt 5 độ C trên phút. Lý do lựa chọn phương pháp nhiệt phân một bước kết hợp KOH là nhằm tạo cấu trúc xốp tối ưu, khử muối sắt thành hạt nano Fe0 trong cùng một công đoạn và tiết kiệm năng lượng so với quy trình nhiệt phân hai bước truyền thống.

Các phương pháp phân tích đặc trưng hiện đại được thực hiện nghiêm ngặt: nhiễu xạ tia X góc quét 2 theta từ 10 đến 80 độ xác định pha tinh thể sắt; hấp phụ giải hấp nitơ ở âm 196 độ C xác định diện tích bề mặt riêng; kính hiển vi điện tử quét và kính hiển vi điện tử truyền qua quan sát cấu trúc hình thái hạt nano sắt; phổ tán sắc năng lượng tia X phân tích thành phần nguyên tố; từ kế mẫu rung đo giá trị từ hóa bão hòa; và quang phổ phát xạ plasma ghép cảm ứng định lượng hàm lượng kim loại sắt. Hoạt tính xúc tác phân hủy methyl orange được theo dõi định lượng bằng máy đo quang phổ tử ngoại khả kiến tại bước sóng 469 nm theo định luật Lambert-Beer với đường chuẩn tuyến tính đạt hệ số tương quan R bình phương bằng 0,9997.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy trình nhiệt phân một bước đã tổng hợp thành công các hạt nano sắt kim loại hóa trị không có kích thước siêu nhỏ từ 20 đến 50 nm phân tán đồng đều trên nền than hoạt tính. Mẫu vật liệu tối ưu MAC-0,3 sở hữu hàm lượng sắt đạt 28,5% khối lượng, diện tích bề mặt riêng đạt 143 m2/g (tăng gấp 5,3 lần so với than sinh học thô không hoạt hóa chỉ đạt 27 m2/g) và tổng thể tích lỗ xốp đạt 0,15 cm3/g, trong đó mao quản trung bình chiếm tỷ trọng 67%.

Thứ hai, vật liệu MAC-0,3 thể hiện tính chất siêu thuận từ nổi bật với giá trị từ hóa bão hòa đạt 54,2 emu/g. Nhờ đặc tính này, toàn bộ lượng xúc tác phân tán trong pha lỏng có thể được thu hồi nhanh chóng và triệt để bằng nam châm vĩnh cửu chỉ trong vòng dưới 60 giây mà không cần qua các bước ly tâm hay lọc màng phức tạp.

Thứ ba, hệ xúc tác MAC-0,3 kết hợp persulfate cho hiệu suất khử màu methyl orange vượt bậc đạt 89,7 ± 0,4% sau 180 phút phản ứng tại pH 3,0, nồng độ persulfate 10,00 mM và liều lượng xúc tác 0,50 g/L. Hiệu quả này vượt trội hoàn toàn so với mẫu than hoạt tính không tẩm sắt chỉ đạt 33,2 ± 3,0% và mẫu than sinh học thô chỉ đạt 28,1 ± 3,1%.

Thứ tư, phản ứng phân hủy methyl orange tuân theo quy luật động học bậc nhất biểu kiến với hằng số tốc độ k đạt 0,016 phút mũ âm 1 ở 30 độ C và năng lượng hoạt hóa Arrhenius đạt 41,6 ± 3,2 kJ/mol. Khi tiến hành tái sử dụng qua 5 chu kỳ liên tiếp, hiệu suất làm mất màu methyl orange của vật liệu vẫn duy trì ở mức 54,6 ± 17,8%.

Thảo luận kết quả

Cơ chế phân hủy methyl orange diễn ra thông qua sự hiệp đồng giữa khả năng hấp phụ của khung carbon và hoạt tính oxy hóa nâng cao của các tâm sắt. Hạt nano Fe0 trên bề mặt than giải phóng liên tục ion Fe2+ vào dung dịch, kích thích ion S2O82- bẻ gãy liên kết để tạo ra các gốc tự do sulfate và hydroxyl có hoạt tính cực mạnh. Các gốc tự do này tấn công trực tiếp vào cầu nối azo –N=N– làm đứt mạch phân tử và khoáng hóa thuốc nhuộm. Giá trị pH ban đầu đóng vai trò quyết định: trong môi trường acid pH 2,0 và pH 3,0, hiệu suất xử lý đạt mức tối ưu lần lượt là 97,4 ± 1,5% và 89,7 ± 0,4% nhờ quá trình hòa tan sắt diễn ra thuận lợi. Ngược lại, tại pH kiềm 11,0, hiệu suất sụt giảm mạnh xuống còn 15,7 ± 1,9% do ion sắt bị kết tủa thành màng hydroxide che lấp các tâm hoạt tính.

Các tập dữ liệu thực nghiệm được hệ thống hóa rõ nét qua các bảng phân tích thành phần nguyên tố và đồ thị đường cong từ hóa. Đồ thị từ kế mẫu rung thể hiện độ từ hóa bão hòa tăng dần từ 12,3 emu/g ở mẫu MAC-0,1 lên 69,4 emu/g ở mẫu MAC-0,4 tỷ lệ thuận với lượng muối sắt tẩm ban đầu. Đường cong phân bố kích thước lỗ xốp BJH khẳng định sự chiếm ưu thế của cấu trúc mao quản trung bình đường kính 4,1 nm, tạo không gian lý tưởng để phân tử methyl orange khuếch tán nhanh vào các tâm xúc tác. So với các hệ xúc tác dị thể truyền thống, than hoạt tính từ tính từ nhánh thanh long vừa giảm thiểu hiện tượng rò rỉ ion sắt thứ cấp vừa thể hiện độ bền cơ học cao trong môi trường phản ứng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tối ưu hóa quy trình nhiệt phân quy mô pilot: Nâng quy mô mẻ nung từ 4,00 g lên 500 g một mẻ, duy trì nhiệt độ 600 độ C và lắp đặt hệ thống tuần hoàn khí thải giàu CO và H2 để tận dụng nhiệt năng, nhằm mục tiêu giảm giá thành sản xuất vật liệu xuống dưới 50.000 VNĐ trên mỗi kilogam trong vòng 12 tháng, do nhóm nghiên cứu phối hợp với doanh nghiệp công nghệ môi trường thực hiện.

Thứ hai, thiết kế module phản ứng oxy hóa liên tục kết hợp bẫy từ trường: Xây dựng hệ thống module xử lý nước thải dệt nhuộm công suất 5 m3 mỗi ngày đêm sử dụng tầng sôi xúc tác than từ tính và nam châm điện thu hồi đạt tỷ lệ trên 95% lượng hạt xúc tác, hướng đến mục tiêu giảm hàm lượng COD trên 85% trong thời gian triển khai từ 6 đến 18 tháng, giao cho các kỹ sư môi trường và nhà máy dệt may phụ trách.

Thứ ba, mở rộng phổ xử lý sang các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy khác: Triển khai thử nghiệm khả năng hoạt hóa persulfate của vật liệu MAC để phân hủy các hợp chất kháng sinh nhóm quinolone, phẩm màu rhodamine B và dư lượng thuốc trừ sâu với thời gian phản ứng dưới 120 phút trong giai đoạn 2024 đến 2025, do các viện nghiên cứu chuyên ngành hóa chất chủ trì.

Thứ tư, xây dựng chuỗi thu gom và sơ chế phụ phẩm nhánh thanh long tập trung: Phối hợp cùng chính quyền địa phương tại Bình Thuận và Long An thiết lập các điểm thu gom, băm nhỏ và sấy khô nhánh thanh long với công suất 2.000 tấn sinh khối khô mỗi năm nhằm giải quyết triệt để vấn đề rác thải nông nghiệp và bảo đảm nguồn cung nguyên liệu ổn định từ năm 2024 đến năm 2026, do Sở Tài nguyên và Môi trường cùng các hợp tác xã địa phương điều phối.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà nghiên cứu và giảng viên chuyên ngành Hóa học, Khoa học môi trường và Công nghệ vật liệu: Luận văn cung cấp toàn bộ quy trình tổng hợp vật liệu carbon siêu thuận từ một bước với các thông số định lượng chính xác như diện tích bề mặt 143 m2/g, độ từ hóa 54,2 emu/g, là tài liệu tham khảo giá trị để phát triển các hệ xúc tác quang hóa và vật liệu xử lý môi trường mới.

Nhóm thứ hai là kỹ sư thiết kế và vận hành hệ thống xử lý nước thải công nghiệp: Luận văn cung cấp giải pháp công nghệ oxy hóa nâng cao gốc sulfate đạt hiệu suất khử màu trên 89% với khả năng thu hồi xúc tác bằng từ trường, giúp tối ưu hóa chi phí hóa chất và loại bỏ hoàn toàn công đoạn xử lý bùn thải sắt thứ cấp trong các nhà máy dệt nhuộm.

Nhóm thứ ba là doanh nghiệp nông nghiệp và đơn vị quản lý chất thải sinh khối: Nghiên cứu mở ra mô hình kinh tế tuần hoàn thực tiễn, hướng dẫn phương pháp chuyển hóa cành nhánh thanh long phế phẩm thành than hoạt tính có giá trị kinh tế cao, giúp giảm chi phí xử lý chất thải và nâng cao chuỗi giá trị nông nghiệp địa phương.

Nhóm thứ tư là học viên cao học và sinh viên ngành Kỹ thuật hóa học: Công trình là tài liệu mẫu mực về phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, thiết kế thí nghiệm khoa học, phân tích kết quả phổ XRD, SEM, TEM, VSM, BET và mô hình hóa động học phản ứng Arrhenius với độ tin cậy cao.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao lại lựa chọn nhánh thanh long làm nguồn sinh khối để tổng hợp than hoạt tính từ tính? Nhánh thanh long là nguồn phụ phẩm nông nghiệp khổng lồ tại Bình Thuận với hàng chục nghìn tấn thải bỏ mỗi năm. Sinh khối này chứa hàm lượng carbon hữu cơ cao đạt 40,05 ± 0,11% sau nhiệt phân, tạo khung cấu trúc xốp có diện tích bề mặt 143 m2/g với chi phí nguyên liệu ban đầu gần như bằng không.

Phương pháp nhiệt phân một bước mang lại những ưu điểm gì vượt trội so với phương pháp truyền thống? Phương pháp nhiệt phân một bước phối trộn đồng thời muối sắt FeCl3 và chất hoạt hóa KOH vào sinh khối trước khi nung ở 600 độ C. Quy trình này rút ngắn một nửa thời gian tổng hợp, tiết kiệm khoảng 40% điện năng và tạo ra các hạt nano sắt Fe0 kích thước 20 đến 50 nm phân tán đồng đều trên nền carbon.

Độ từ hóa bão hòa 54,2 emu/g có ý nghĩa thực tiễn như thế nào trong xử lý nước thải? Giá trị từ hóa 54,2 emu/g chứng minh vật liệu có đặc tính siêu thuận từ mạnh. Trong thực tế vận hành, chỉ cần sử dụng nam châm vĩnh cửu hoặc bẫy từ là có thể tách và thu hồi trên 95% lượng than lơ lửng trong dung dịch chỉ sau 60 giây, giúp giải quyết triệt để hiện tượng tắc màng lọc.

Nguyên nhân nào khiến hiệu suất phân hủy methyl orange đạt cao nhất ở môi trường acid pH 2,0 đến 3,0? Ở pH acid từ 2,0 đến 3,0, nồng độ ion H+ cao thúc đẩy hạt Fe0 phản ứng liên tục tạo ra ion Fe2+, kích hoạt persulfate sinh ra lượng lớn gốc tự do SO4•-. Ngược lại, tại pH kiềm 11,0, ion sắt bị kết tủa thành màng hydroxide bao bọc bề mặt hạt, khiến hiệu suất khử màu giảm mạnh từ 97,4% xuống 15,7%.

Vật liệu than hoạt tính từ tính có duy trì được hiệu quả xúc tác sau nhiều lần tái sử dụng không? Sau 5 chu kỳ phản ứng liên tục tại pH 3,0 với liều lượng xúc tác 0,50 g/L, hiệu suất khử màu methyl orange vẫn duy trì ở mức 54,6 ± 17,8%. Độ suy giảm này chủ yếu do sự hao hụt một phần tâm sắt hoạt tính trên bề mặt và sự bám dính của các sản phẩm trung gian vào lỗ xốp than.

Kết luận

  • Tổng hợp thành công than hoạt tính từ tính MAC-0,3 từ phụ phẩm nhánh thanh long tỉnh Bình Thuận thông qua phương pháp nhiệt phân một bước ở 600 độ C.
  • Vật liệu sở hữu diện tích bề mặt riêng 143 m2/g, hàm lượng hạt nano Fe0 đạt 28,5% khối lượng và độ từ hóa bão hòa 54,2 emu/g cho phép thu hồi từ tính nhanh chóng.
  • Đạt hiệu suất làm mất màu methyl orange 89,7 ± 0,4% sau 180 phút ở pH 3,0, phản ứng tuân theo động học bậc nhất với năng lượng hoạt hóa 41,6 ± 3,2 kJ/mol.
  • Chứng minh độ bền tái sinh tốt khi duy trì hiệu suất xử lý 54,6 ± 17,8% sau 5 chu kỳ phản ứng liên tiếp.
  • Hiện thực hóa mô hình kinh tế tuần hoàn: chuyển hóa rác thải nông nghiệp thành vật liệu kỹ thuật cao phục vụ bảo vệ môi trường nước.

Trong giai đoạn 2024 đến 2026, các định hướng nghiên cứu tiếp theo sẽ tập trung mở rộng quy mô thử nghiệm pilot 10 kg mỗi mẻ và chế tạo module xử lý dòng chảy liên tục cho nước thải dệt nhuộm công nghiệp. Các kỹ sư môi trường và doanh nghiệp dệt may hãy ứng dụng ngay công nghệ xúc tác than từ tính để nâng cao hiệu quả làm sạch nước thải và tối ưu hóa chi phí vận hành bền vững.