Tài liệu ôn thi vào 10 môn Ngữ văn: Đọc hiểu ngữ liệu ngoài sách giáo khoa

Chuyên ngành

Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Tài liệu ôn thi

2019

307
0
0

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đọc hiểu ngữ liệu ngoài sách giáo khoa

Đọc hiểu ngữ liệu ngoài sách giáo khoa là dạng bài thi tuyển sinh vào lớp 10 phổ biến hiện nay. Thí sinh nhận một văn bản hoàn toàn mới, chưa từng học trong chương trình, rồi trả lời các câu hỏi phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật. Kiểu bài này đòi hỏi năng lực tư duy ngôn ngữ, kỹ năng đọc nhanh và khả năng tổng hợp thông tin. Văn bản thường thuộc nhiều thể loại: truyện ngắn, thơ, bút ký, nghị luận xã hội hoặc báo chí. Nội dung xoay quanh các chủ đề gần gũi như tình người, truyền thống quê hương, vẻ đẹp lao động, tình yêu thiên nhiên. Thí sinh cần nắm chắc phương pháp đọc hiểu, biết cách xác định từ khóa, mạch lạc luận điểm và phân tích biện pháp nghệ thuật. Việc luyện tập thường xuyên với đa dạng ngữ liệu giúp học sinh nâng cao phản xạ làm bài và đạt điểm cao trong kỳ thi quan trọng này.

1.1. Khái niệm và đặc điểm ngữ liệu ngoài sách giáo khoa

Ngữ liệu ngoài sách giáo khoa là văn bản chưa từng xuất hiện trong chương trình Ngữ văn chính khóa. Đặc điểm nổi bật là tính mới lạ, đòi hỏi thí sinh áp dụng linh hoạt kiến thức đã học vào ngữ cảnh xa lạ. Văn bản có thể thuộc thể loại tự sự, trữ tình, nghị luận hoặc thuyết minh. Độ dài thường từ 200 đến 500 từ. Chủ đề đa dạng: đạo lý sống, tình yêu quê hương, vẻ đẹp con người Việt Nam, vấn đề xã hội đương đại. Thí sinh không được phép học thuộc mà phải tư duy phân tích tại chỗ.

1.2. Vị trí và vai trò trong đề thi tuyển sinh lớp 10

Phần đọc hiểu ngữ liệu ngoài chiếm tỷ trọng điểm đáng kể trong đề thi Ngữ văn vào lớp 10, thường từ 2 đến 3 điểm trên tổng số 10 điểm. Đây là phần phân loại thí sinh hiệu quả vì kiểm tra đồng thời nhiều năng lực: đọc hiểu, phân tích, đánh giá và sáng tạo. Nhiều Sở Giáo dục chuyển dần sang ra đề theo hướng mở, tăng cường ngữ liệu ngoài. Thí sinh nắm vững kỹ năng đọc hiểu sẽ có lợi thế cạnh tranh lớn, tạo nền tảng vững chắc cho phần nghị luận xã hội và nghị luận văn học phía sau.

II. Các dạng bài đọc hiểu ngữ liệu ngoài thường gặp nhất

Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 thường xuyên xuất hiện nhiều dạng câu hỏi đọc hiểu khác nhau. Dạng đầu tiên là xác định nội dung chính, yêu cầu thí sinh tóm tắt hoặc nêu ý nghĩa của văn bản. Dạng thứ hai liên quan đến từ vựng: giải thích từ ngữ trong ngữ cảnh, xác định trường từ vựng, phân tích cách dùng từ của tác giả. Dạng thứ ba tập trung vào biện pháp nghệ thuật: ẩn dụ, nhân hóa, so sánh, điệp từ, liệt kê. Dạng thứ tư yêu cầu cảm nhận, đánh giá hoặc liên hệ bản thân. Mỗi dạng đòi hỏi phương pháp xử lý riêng. Thí sinh cần đọc kỹ văn bản nhiều lần, gạch chân từ khóa, xác định yêu cầu trước khi viết câu trả lời. Câu trả lời cần ngắn gọn, chính xác, bám sát nội dung văn bản và có dẫn chứng cụ thể.

2.1. Dạng câu hỏi về nội dung và ý nghĩa văn bản

Dạng câu hỏi này yêu cầu xác định chủ đề, nội dung chính, thông điệp mà tác giả gửi gắm. Thí sinh cần đọc lướt để nắm ý tổng thể, sau đó đọc kỹ từng đoạn để tìm luận điểm cốt lõi. Câu hỏi thường có dạng: "Theo tác giả, mục đích chung là gì?" hoặc "Văn bản đề cập vấn đề gì?". Cách trả lời hiệu quả là trích dẫn trực tiếp hoặc diễn đạt lại ý chính bằng lời của mình, đảm bảo đầy đủ và ngắn gọn. Cần chú ý câu chủ đề ở đầu hoặc cuối đoạn văn.

2.2. Dạng câu hỏi về từ vựng và biện pháp nghệ thuật

Dạng này kiểm tra vốn từ và cảm thụ nghệ thuật ngôn ngữ. Câu hỏi về từ vựng gồm giải thích nghĩa từ trong ngữ cảnh, xác định trường từ vựng, tìm từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa. Câu hỏi về biện pháp nghệ thuật yêu cầu chỉ ra và phân tích tác dụng của ẩn dụ, nhân hóa, so sánh, điệp ngữ, câu hỏi tu từ. Thí sinh cần nắm chắc khái niệm từng biện pháp, biết cách chỉ ra đối tượng so sánh và hiệu quả biểu đạt. Câu trả lời cần kết hợp dẫn chứng cụ thể từ văn bản để tăng tính thuyết phục.

III. Phương pháp luyện tập đọc hiểu ngữ liệu ngoài hiệu quả

Để làm tốt phần đọc hiểu ngữ liệu ngoài, học sinh cần xây dựng lộ trình luyện tập khoa học và kiên trì. Bước đầu tiên là đọc đa dạng thể loại văn bản mỗi ngày: truyện ngắn, thơ, bút ký, bài báo, đoạn nghị luận. Bước thứ hai là luyện kỹ năng đọc nhanh và xác định ý chính trong thời gian ngắn. Bước thứ ba là thực hành viết câu trả lời theo cấu trúc rõ ràng: nêu ý, giải thích, dẫn chứng, kết luận. Học sinh nên sưu tầm đề thi các năm trước và đề thi thử của các Sở Giáo dục để làm quen với format câu hỏi. Việc so sánh đáp án mẫu giúp nhận ra cách trả lời đạt điểm tối đa. Ngoài ra, học sinh cần mở rộng vốn từ bằng cách ghi chép từ mới, học cách sử dụng từ ngữ trong nhiều ngữ cảnh khác nhau. Luyện tập đều đặn mỗi ngày 30 phút sẽ mang lại tiến bộ rõ rệt sau hai tháng.

3.1. Xây dựng thói quen đọc và mở rộng vốn từ

Thói quen đọc hàng ngày là nền tảng quan trọng nhất để cải thiện kỹ năng đọc hiểu. Học sinh nên đọc ít nhất 15 phút mỗi ngày với đa dạng thể loại: văn học, báo chí, khoa học phổ thông. Khi gặp từ mới, cần ghi chép vào sổ tay kèm nghĩa và ví dụ sử dụng. Việc học trường từ vựng theo chủ đề giúp nhớ từ nhanh và sâu hơn. Đọc to văn bản cũng là cách hiệu quả để tăng khả năng cảm thụ ngôn ngữ, nắm bắt nhịp điệu câu văn và phát triển phản xạ đọc hiểu tự nhiên.

3.2. Kỹ thuật làm bài và quản lý thời gian trong phòng thi

Trong phòng thi, thí sinh cần phân bổ thời gian hợp lý cho phần đọc hiểu, thường khoảng 20 đến 30 phút. Nên đọc lướt văn bản lần đầu để nắm nội dung tổng thể, lần hai đọc kỹ để trả lời từng câu hỏi. Với câu hỏi dễ, trả lời ngay để tiết kiệm thời gian. Câu hỏi khó nên đánh dấu và quay lại sau. Câu trả lời cần viết ngắn gọn, đúng trọng tâm, tránh lan man. Luôn kiểm tra lại đáp án trước khi chuyển sang phần tiếp theo để tránh mất điểm oan.

IV. Kết luận và ứng dụng kỹ năng đọc hiểu vào thực tế

Kỹ năng đọc hiểu ngữ liệu ngoài không chỉ phục vụ kỳ thi tuyển sinh lớp 10 mà còn là hành trang quý giá cho suốt quá trình học tập sau này. Học sinh biết cách đọc hiểu tốt sẽ tiếp thu kiến thức các môn học nhanh hơn, phân tích vấn đề sắc bén hơn và diễn đạt ý tưởng mạch lạc hơn. Trong cuộc sống, kỹ năng này giúp đọc hiểu hợp đồng, văn bản hành chính, tin tức báo chí một cách chính xác. Để đạt kết quả cao, học sinh cần ôn tập có hệ thống, nắm vững phương pháp và luyện tập thường xuyên. Phụ huynh và giáo viên đóng vai trò hỗ trợ quan trọng bằng cách cung cấp tài liệu phù hợp, hướng dẫn phương pháp và tạo động lực cho học sinh. Với sự chuẩn bị kỹ lưỡng, mỗi thí sinh đều có thể tự tin đạt điểm tối đa phần đọc hiểu trong kỳ thi sắp tới.

4.1. Tầm quan trọng của kỹ năng đọc hiểu trong học tập

Kỹ năng đọc hiểu là nền tảng cho mọi hoạt động học tập ở cấp trung học phổ thông. Học sinh giỏi đọc hiểu sẽ tiếp thu nhanh các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân. Kỹ năng này còn hỗ trợ đọc hiểu đề bài Toán, Vật lý, Hóa học đòi hỏi phân tích ngữ cảnh phức tạp. Ở bậc đại học, đọc hiểu tốt giúp sinh viên nghiên cứu tài liệu, viết luận văn và thuyết trình hiệu quả. Vì vậy, việc rèn luyện kỹ năng đọc hiểu từ sớm mang lại lợi ích lâu dài cho sự phát triển tư duy và học vấn của mỗi người.

4.2. Lời khuyên dành cho thí sinh trước kỳ thi

Thí sinh nên bắt đầu ôn tập phần đọc hiểu ít nhất ba tháng trước kỳ thi. Mỗi tuần luyện tập từ ba đến năm đề đọc hiểu với đa dạng ngữ liệu. Nên thành lập nhóm học tập để cùng thảo luận, so sánh đáp án và học hỏi lẫn nhau. Trước ngày thi, cần ngủ đủ giấc, giữ tinh thần thoải mái và tin tưởng vào khả năng của bản thân. Trong phòng thi, đọc kỹ yêu cầu từng câu hỏi trước khi tìm câu trả lời trong văn bản. Viết câu trả lời rõ ràng, logic và có dẫn chứng cụ thể từ ngữ liệu.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

0 điểm) Đọc kĩ văn bản và thực hiện các yêu cầu bên dưới: Trong xã hội có muôn vàn những việc làm đẹp, những hành động đẹp, là sự sẻ chia thăm đậm tình người với đạo lý “thương người như thể thương thân”. Ngày nay, chúng ta không khó bắt gặp nhiều hoạt động tử tế giúp đỡ những người khó khăn, Với những manh áo mỏng bớt đi cái lạnh của mùa đông, những tô cháo, hộp cơm. chứa chan biết bao tình người mà các nhà hảo tâm cung cấp miễn phí ở một số bệnh viện trong cả nước hay sức lan tỏa của phong trào hiến máu tình nguyện đã thu hút đông đảo người tham gia. Thậm chí có những cái chết nhưng vẫn lưu lại sự sống bằng việc hiến tạng, . là truyền thống tốt đẹp của đất nước ta từ nhiều đời nay. Truyền thống ấy luôn tồn tại và không ngừng phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau. Thật cảm động trước những nghĩa cử cao đẹp của các tổ chức, cá nhân đã và đang thực hiện các hoạt động từ thiện này. Họ đến từ nhiều thành phần trong xã hội, là những nhà Mạnh Thường Quân, tổ chức tôn giáo, người tu hành, người dân bình thường và cả những người từng có quá khứ lỗi lầm. Họ cùng nhau, người góp công sức, người góp tiền của, cho dù nhiều người chưa hẳn đã có cuộc sống dư dả về vật chất, song họ đều có một mục đích chung là giúp đỡ người khác, giúp đỡ những hoàn cảnh bất hạnh vượt qua khó khăn và bệnh tật. Với những bệnh nhân nghèo, hộp cơm, tố cháo, đồng tiền. mà họ nhận được từ các nhà hảo tâm đã mang đến những nụ cười và cả những giọt nước mắt hạnh phúc của cả người cho và người nhận, Thứ hạnh phúc mà chính những người trong cuộc cũng khó có thể bày tỏ hết bằng lời, nó là động lực thôi thúc sự sẻ chia và cảm thông, Để rồi ai cũng muốn cho đi, cho dù chỉ là nụ cười và cùng nhau đón nhận những giá trị của việc cho đi, cho đi. là còn mải, đó chính là tình người! (Theo Khắc Trường, dangcongsan.0 điểm): Từ tử tế trong văn bản có nghĩa là gì Câu 2 (1.0 điểm): Tìm các từ sắp xếp thành một trường từ vựng và đặt tên cho trường từ vựng đó trong câu: “Họ đến từ nhiều thành phần trong xã hội, là những nhà Mạnh Thường Quân, tổ chức tôn giáo, người tu hành, người dân bình thường và cả những người từng có quá khứ lỗi lầm.” Câu 3 (0,50 điểm): Theo tác giả, các nhà hảo tâm có cùng một mục đích chung là gì? Câu 4 (0,50 điểm): Tìm một câu ca dao hoặc tục ngữ hoặc thành ngữ nói về sự tương thân tương ái của dân tộc.0 điểm): 1 Viết đoạn văn ngắn trình bày suy nghĩ của em về nhận định của tác giả trong phần đọc hiểu: “cho đi. (5,0 điểm) Cảm nhận của em về sự chuyển biến tâm tư của người lính qua bài thơ Ảnh trăng của Nguyễn Duy. Bài thơ đã gợi cho em bài học gì về cách sống của cá nhân? ÁNH TRĂNG Nguyễn Duy Hồi nhỏ sống với đồng với sông rồi với biển hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thành tri kỷ Trần trụi với thiên nhiên hồn nhiên như cây cỏ ngỡ không bao giờ quên cái vầng trăng tình nghĩa Từ hồi về thành phố quen ánh điện cửa gương vầng trăng đi qua ngõ như người dưng qua đường Thình lình đèn điện tắt phòng buyn-đinh tối om vội bật tung cửa sổ đột ngột vầng trăng tròn Ngửa mặt lên nhìn mặt có cái gì rưng rưng như là đồng là bể như là sông là rừng Trăng cứ tròn vành vạnh kể chi người vô tình ánh trăng im phăng phắc đủ cho ta giật mình TP. Hồ Chí Minh, 1978 (Ngữ văn 9, Tập một, NXBGD 2005, trang 155-156) 2 GỢI Ý ĐÁP ÁN ĐỀ THI VÀO LỚP 10 MÔN VĂN 2019 AN GIANG Mình tặng các bạn Tuyển tập đề thi Tuyển sinh lớp 10 mới nhất, 2019. Bạn nào mong muốn có trọn bộ Dạy thêm 9, ôn thi 10 rất công phu, dễ học, dễ hiểu thì có thể liện hệ để mua trọn bộ.0 điểm): Từ tử tế trong văn bản có nghĩa là: những việc làm đẹp, những hành động đẹp, là sự sẻ chia thăm đậm tình người với đạo lý “thương người như thể thương thân”.0 điểm): Tìm các từ sắp xếp thành một trường từ vựng và đặt tên cho trường từ vựng đó trong câu: “Họ đến từ nhiều thành phần trong xã hội, là những nhà Mạnh Thường Quân, tổ chức tôn giáo, người tu hành, người dân bình thường và cả những người từng có quá khứ lỗi lầm.” Các từ sắp xếp thành một trường từ vựng "thành phần tổ chức từ thiện": mạnh thường quân, tổ chức tôn giáo, người tu hành, người dân bình thường, người từng có quá khứ lỗi lầm. Câu 3 (0,50 điểm): Theo tác giả, các nhà hảo tâm có cùng một mục đích chung: giúp đỡ người khác, giúp đỡ những hoàn cảnh bất hạnh vượt qua khó khăn và bệnh tật. Câu 4 (0,50 điểm): Câu ca dao hoặc tục ngữ hoặc thành ngữ nói về sự tương thân tương ái của dân tộc.  Cả bè hơn cây nứa.  Góp gió thành bão  Hợp quần gây sức mạnh.  Lá lành đùm lá rách  Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ.  Thương người như thể thương thân.  Dân ta nhớ một chữ đồng: Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh.  Một cây làm chẳng nên non. Ba cây chụp lại nên hòn núi cao.  Bầu ơi thương lấy bí cùng  Nhiễu điều phũ lấy giá gương 3 Người trong một nước phải thương nhau cùng.0 điểm): Tham khảo đoạn văn sau: Nếu ví cuộc đời này là một trường ca bất tận thì có lẽ, lối sống sẻ chia, cho đi là còn mãi là một nốt trầm sâu lắng chứa đựng giá trị nhân sinh sâu sắc về cách ứng xử của con người trong cuộc sống. Cho đi là cách ta sẻ chia, giúp đỡ ai đó về mặt vật chất hoặc tinh thần. Cho đi làm cho chúng ta hạnh phúc hơn, yêu đời hơn, làm cho chính bản thân ta hoàn thiện hơn, cảm nhận cuộc đời này có ý nghĩa hơn. Không chỉ vậy cuộc sống là một ngọn núi, có lúc dốc, có lúc bằng phẳng khác nhau, bởi vậy luôn cần đến những con người biết chia sẻ, biết cho đi mà không nghĩ đến việc nhận lại. Cuôc sống này còn nhiều những mảnh đời bất hạnh, họ cần lắm một ánh lửa sẻ chia từ chúng ta, đôi khi chỉ là cái nắm tay thật chặt, cái vỗ vai, lời an ủi, động viên cũng phần nào giúp họ. Nhắc đến lẽ sống đẹp này, chúng ta lại nhớ đến câu chuyện về chàng thanh niên Nguyễn Hữu Ân đã chia sẻ chiếc bánh thời gian của mình để giúp đỡ những người bệnh ung thư giai đoạn cuối. Trái với hành động đẹp biết sống cho đi, cần lên án những người chỉ biết sống ích kỉ, luôn lo sợ nhận lại ít hơn cho đi. Chúng ta cần phải biết mỗi ngày sống là một trải nghiệm, được yêu thương, được sẻ chia là điều hạnh phúc nhất. Cuộc sống sẽ tuyệt vời biết bao khi mỗi con người sẵn sàng cho đi, sẻ chia đối với những người xung quanh mình. Chính vì vậy, bạn trẻ ơi “Còn gì đẹp trên đời hơn thế. Người với người sống để yêu nhau” (Tố Hữu). (5,0 điểm): + Mở bài – Ánh trăng là đề tài quen thuộc của thi ca, là cảm hứng sáng tác vô tận cho các nhà thơ – Nguyễn Duy, một nhà thơ tiêu biểu cho thế hệ trẻ sau năm 1975 cũng góp vào mảng thơ thiên nhiên một “Ánh trăng”. – Với Nguyễn Duy, ánh trăng không chỉ là niềm thơ mà còn được biểu đạt một hàm nghĩa mới, mang dấu ấn của tình cảm thời đại: Ánh trăng là biểu tượng cho quá khứ trong mỗi đời người. – Đối diện trước vầng trăng, người lính đã giật mình về sự vô tình trước thiên nhiên, vô tình với những kỉ niệm nghĩa tình của một thời đã qua. Bài thơ “Ánh trăng” giản dị như một niềm ân hận trong tâm sự sâu kín ấy của nhà thơ. Những câu đầu tiên của bài thơ tác giả đang hồi ức lại những ngày thơ bé sống ở vùng quê, nơi có những kỷ niệm tuổi thơ trong vắt. Ánh trăng vì thế trong mắt tác giả cũng mang màu sắc trong trẻo, nên thơ. 4 “Hồi nhỏ sống với rừng Với sông rồi với biển” “trần trụi với thiên nhiên hồn nhiên như cây cỏ” Trong những câu thơ này thể hiện tác giả là người có lối sống giản dị, lớn lên từ những miền quê và có cuộc sống gắn liến với sống biển. Ánh trăng trong kí ức của tác giả mà một màu trong veo, nên thơ của cuộc sống. “Hồi chiến tranh ở rừng Vầng trăng thành tri kỉ Trần trụi với thiên nhiên Hồn nhiên như cây cỏ Ngỡ không bao giờ quên Cái vầng trăng tình nghĩa” – Ánh trăng gắn bó với những kỉ niệm không thể nào quên của những người lính khi sống trong rừng, khi không có đèn không có điện chỉ có ánh trăng soi đường. - Dọc đường hành quân đi chiến đấu người lính hát cùng ánh trăng, làm thơ cùng ánh trăng, tâm sự cùng ánh trăng. Ánh trăng đã thân thuộc gần gũi nhưng là người thân của tác giả. + Cảm nghĩ về vầng trăng hiện tại. Từ hồi về thành phố Quen ánh điện cửa gương Vầng trăng đi qua ngõ Như người dưng qua đường – Vầng trăng tri kỉ ngày nào nay đã trở thành “người dưng” – người khách qua đường xa lạ. + Sự thay đổi của hoàn cảnh sống- không gian khác biệt, thời gian cách biệt, điều kiện sống cách biệt -Tác giả vội vàng "bật của sổ" như thể mời một vị khách quý tới nhà, sợ mình chậm trễ người khách sẽ bỏ về. – Câu thơ dưng dưng – lạnh lùng – nhức nhối, xót xa miêu tả một điều gì bội bạc, nhẫn tâm vẫn thường xảy ra trong cuộc sống. Vì những con người trong cuộc sống hiện tại dường như bị giá trị vật chất cuốn mình đi,.Con người quên đi giá trị tinh thần và ngày càng lạnh lùng, thờ ơ với nhau. 5 – Trăng và con người đã gặp nhau trong một giây phút tình cờ. Vầng trăng xuất hiện vẫn một tình cảm tràn đầy, không mảy may sứt mẻ. – Vầng trăng vẫn là một vầng trăng tròn đầy như hồi thơ bé tác giả nhìn thấy nhưng chỉ con người là đã thay đổi. - Tác giả và vầng trăng như một người bạn tri kỷ, hình ảnh ánh trăng tròn đầy tỏa sáng đã khiến cho chúng ta những con người đang quay quần trong cuộc sống thường nhật phải bừng tỉnh nhìn lại chính mình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ