Các dạng toán xác suất THPT theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018

Tổng hợp đầy đủ các dạng toán xác suất THPT chương trình 2018. Phân loại chi tiết kèm phương pháp giải, ví dụ minh họa và bài tập vận dụng.

Chuyên ngành

Toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2024

60
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Kiến Thức Cơ Bản Về Xác Suất THPT

Xác suất là một lĩnh vực toán học quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông bậc Trung học phổ thông. Để giải quyết các bài toán xác suất hiệu quả, học sinh cần nắm vững các khái niệm cơ bản như phép thử ngẫu nhiên, không gian mẫu, và biến cố. Phép thử ngẫu nhiên là những thử nghiệm mà kết quả không thể dự đoán trước được. Không gian mẫu là tập hợp tất cả các kết quả có thể xảy ra. Biến cố là tập hợp con của không gian mẫu, biểu thị những kết quả mà chúng ta quan tâm. Hiểu rõ những khái niệm này là nền tảng để học sinh có thể phân loại các dạng toán xác suất khác nhau và áp dụng phương pháp giải phù hợp cho mỗi bài toán cụ thể.

1.1. Phép Thử Ngẫu Nhiên Và Không Gian Mẫu

Phép thử ngẫu nhiên là quá trình thực hiện một hành động mà kết quả không thể xác định trước. Ví dụ: tung xúc xắc, rút thẻ từ bộ bài. Không gian mẫu ký hiệu Ω là tập hợp tất cả các kết quả có thể xảy ra. Khi tung một xúc xắc, không gian mẫu là {1, 2, 3, 4, 5, 6}. Số phần tử của không gian mẫu ký hiệu là |Ω|. Xác định chính xác không gian mẫu giúp học sinh dễ dàng tính toán xác suất của các biến cố.

1.2. Biến Cố Và Xác Suất

Biến cố là một tập hợp con của không gian mẫu, đại diện cho những kết quả mà chúng ta quan tâm. Xác suất của một biến cố A được tính theo công thức: P(A) = |A|/|Ω|, trong đó |A| là số phần tử của biến cố A. Xác suất luôn nằm trong khoảng [0, 1]. Khi P(A) = 0, biến cố A là không thể xảy ra. Khi P(A) = 1, biến cố A chắc chắn xảy ra.

II. Dạng Toán Liệt Kê Và Đếm Phần Tử

Dạng toán liệt kê và đếm là nền tảng của các bài toán xác suất THPT. Phương pháp này yêu cầu học sinh phải liệt kê tất cả các kết quả có thể xảy ra, sau đó đếm số phần tử của biến cố cần tính xác suất. Đây là dạng toán cơ bản nhất, thường xuất hiện trong các bài toán đơn giản như tung đồng xu, xúc xắc, hoặc rút thẻ. Dấu hiệu nhận biết dạng toán này là khi bài toán yêu cầu tìm xác suất của một biến cố đơn giản, số lượng kết quả không quá lớn. Ưu điểm của phương pháp liệt kê là giúp học sinh hình dung rõ ràng tất cả các trường hợp, từ đó tránh bỏ sót hoặc tính sai.

2.1. Phương Pháp Giải Liệt Kê Đơn Giản

Bước 1: Xác định không gian mẫu Ω bằng cách liệt kê tất cả kết quả có thể. Bước 2: Xác định biến cố A cần tính xác suất bằng cách chọn những kết quả thỏa mãn điều kiện. Bước 3: Đếm số phần tử của A và Ω. Bước 4: Áp dụng công thức P(A) = |A|/|Ω|. Ví dụ: Tung hai xúc xắc. Tìm xác suất để tổng hai mặt bằng 7. Không gian mẫu có 36 phần tử. Biến cố A = {(1,6), (2,5), (3,4), (4,3), (5,2), (6,1)} có 6 phần tử.

2.2. Dấu Hiệu Và Ví Dụ Minh Hoạ

Dấu hiệu nhận biết: Số kết quả giới hạn, bài toán yêu cầu tìm xác suất trong trường hợp cụ thể. Ví dụ: Một túi chứa 3 quả cầu đỏ, 2 quả cầu xanh. Rút ngẫu nhiên 2 quả. Tìm xác suất để cả 2 quả đều đỏ. Liệt kê: D₁D₂, D₁D₃, D₁X₁, D₁X₂, D₂D₃, D₂X₁, D₂X₂, D₃X₁, D₃X₂, X₁X₂. Tổng 10 kết quả, trong đó 3 kết quả thỏa mãn.

III. Dạng Toán Sử Dụng Công Thức Cộng Xác Suất

Công thức cộng xác suất là công cụ quan trọng để tính xác suất khi có nhiều biến cố. Phương pháp này áp dụng khi cần tính xác suất của hợp các biến cố. Có hai trường hợp chính: cộng hai biến cố xung khắc và cộng hai biến cố bất kì. Công thức cộng cho biến cố xung khắc: P(A ∪ B) = P(A) + P(B). Công thức cộng cho biến cố bất kì: P(A ∪ B) = P(A) + P(B) - P(A ∩ B). Dạng toán này thường xuất hiện khi bài toán liên quan đến "hoặc" hoặc "ít nhất". Nắm vững công thức cộng xác suất giúp học sinh giải quyết các bài toán phức tạp hơn một cách hiệu quả.

3.1. Cộng Hai Biến Cố Xung Khắc

Hai biến cố A và B là xung khắc nếu chúng không thể cùng xảy ra, tức là A ∩ B = ∅. Công thức: P(A ∪ B) = P(A) + P(B). Ví dụ: Rút một thẻ từ bộ bài 52 lá. Tìm xác suất để thẻ là quân vua hoặc quân dù. Biến cố A: thẻ là vua, P(A) = 4/52. Biến cố B: thẻ là dù, P(B) = 13/52. Vì A và B xung khắc, P(A ∪ B) = 4/52 + 13/52 = 17/52.

3.2. Cộng Hai Biến Cố Bất Kì

Khi hai biến cố A và B có thể xảy ra đồng thời, ta sử dụng công thức cộng tổng quát: P(A ∪ B) = P(A) + P(B) - P(A ∩ B). Ví dụ: Chọn ngẫu nhiên một số từ 1 đến 100. Tìm xác suất để số đó chia hết cho 2 hoặc 3. A: chia hết cho 2 (50 số), B: chia hết cho 3 (33 số), A ∩ B: chia hết cho 6 (16 số). P(A ∪ B) = 50/100 + 33/100 - 16/100 = 67/100.

IV. Dạng Toán Sử Dụng Phương Pháp Biến Cố Đối

Phương pháp biến cố đối là một kỹ thuật hiệu quả trong các bài toán xác suất THPT, đặc biệt khi bài toán yêu cầu tính xác suất của "ít nhất một". Biến cố đối của A ký hiệu là Ā hoặc A' là biến cố "không xảy ra A". Công thức: P(A) = 1 - P(Ā). Phương pháp này thường cho kết quả nhanh hơn so với liệt kê trực tiếp. Dạng toán này có dấu hiệu nhận biết rõ: bài toán chứa cụm từ "ít nhất", "không có", "không phải". Học sinh cần nắm vững mối quan hệ giữa biến cố và biến cố đối của nó để áp dụng phương pháp này một cách chính xác.

4.1. Cách Xác Định Biến Cố Đối

Biến cố đối Ā của biến cố A bao gồm tất cả các kết quả trong không gian mẫu nhưng không thuộc A. Nếu A là "tất cả sự kiện xảy ra", thì Ā là "sự kiện không xảy ra". Ví dụ: Tung xúc xắc, A là "mặt chẵn", thì Ā là "mặt lẻ". Ω = A ∪ Ā và A ∩ Ā = ∅. Từ đó: P(A) + P(Ā) = 1.

4.2. Bài Toán Ứng Dụng Biến Cố Đối

Ví dụ: Một công ty bảo hiểm phát hành 10 bảo hiểm, xác suất mỗi bảo hiểm có khiếu nại là 0,3. Tìm xác suất để ít nhất một bảo hiểm có khiếu nại. Giải: Biến cố đối Ā là "không có bảo hiểm nào có khiếu nại". P(Ā) = (0,7)¹⁰. P(A) = 1 - (0,7)¹⁰ ≈ 0,972. Phương pháp này giúp tránh phải liệt kê các trường hợp "ít nhất một" phức tạp.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. Các lý thuyết cơ bản về xác suất 1. Phép thử ngẫu nhiên và không gian mẫu - Phép thử ngẫu nhiên (gọi tắt là phép thử) là một thí nghiệm hay một hành động mà kết quả của nó không thể biết được trước khi phép thử được thực hiện. - Không gian mẫu của phép thử là tập hợp tất cả các kết quả có thể xảy ra khi thực hiện phép thử.

Không gian mẫu của phép thử được kí hiệu là . - Kết quả thuận lợi cho một biến cố A liên quan tới phép thử T là kết quả của phép thử T làm cho biến cố đó xảy ra. ❖ Chú ý: Ta chỉ xét các phép thử mà không gian mẫu gồm hữu hạn kết quả. Biến cố ngẫu nhiên - Biến cố ngẫu nhiên (gọi tắt là biến cố) là một tập con của không gian mẫu .

Tập con này là tập hợp tất cả các kết quả thuận lợi cho biến cố đó. - Kí hiệu của các biến cố: • Biến cố không:  • Biến cố chắc chắn:  • Biến cố đối của A: A ̅=  \A • Hợp hai biến cố: A B • Giao hai biến cố: A B (hoặc A.B) • Hai biến cố xung khắc: A B=  1. Xác suất của biến cố - Xác suất của biến cố A, kí hiệu là P(A), trong một phép thử có không gian mẫu  được xác định bởi công thức: n(A) P(A) = n(  ) Trong đó: 8|Page Nguyễn Mai Quỳnh Nhi Khóa luận tốt nghiệp • n(A) là số phần tử của tập hợp A, cũng chính là số các kết quả có thể có của phép thử T thuận lợi cho biến cố A. • n(  ) là số phần tử của không gian mẫu  , cũng chính là số các kết quả có thể có của phép thử T.

❖ Chú ý : + Định nghĩa trên được gọi là định nghĩa cổ điển của xác suất. + Với mọi biến cố A, ta có 0  P(A)  1. + Với mỗi biến cố chắc chắn, ta có P(  ) = 1. + Với mỗi biến cố không thể, ta có P(  ) = 0.

+ Xác suất của mỗi biến cố đo lường xảy ra của biến cố đó. Biến cố có khả năng xảy ra càng cao thì xác suất của nó càng gần 1. ̅ ) = 1 − P(A) với mỗi biến cố A. + Nếu A và B độc lập với nhau, thì ta có P(A.

Nguyên lý xác suất bé - Nếu một biến cố có xác suất rất bé thì trong một phép thử biến cố đó sẽ không xảy ra. ❖ Chú ý : Trong thực tế, xác suất của một biến cố được coi là bé phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể. Chẳng hạn, xác suất của một chiếc điện thoại bị lỗi kĩ thuật là 0,001 được coi là rất bé, nhưng nếu xác suất cháy nổ động cơ của một máy bay là 0,001 thì xác suất này không được coi là bé. Hai biến cố độc lập ❖ Định nghĩa: Hai biến cố (liên quan đến cùng một phép thử) độc lập với nhau khi và chỉ khi việc xảy ra hay không xảy ra của biến cố này không làm ảnh hưởng đến xác suất xảy ra của biến cố kia (nói cách khác là không làm ảnh hưởng đến khả năng xảy ra của biến cố kia).

9|Page Nguyễn Mai Quỳnh Nhi Khóa luận tốt nghiệp ❖ Định lí: Nếu A, B là hai biến cố (liên quan đến cùng một phép thử) sao cho P(A) > 0 và P(B) > 0, ta có: a) A và B là hai biến cố độc lập với nhau khi và chỉ khi: P(A. P(B) b) Nếu A và B độc lập với nhau thì các cặp biến cố sau đây cũng độc lập ̅ và B, A ̅, A với nhau: A và B ̅ và B ̅. Hai biến cố xung khắc ❖ Định nghĩa: - Hai biến cố A và B được gọi là xung khắc với nhau nếu A và B không đồng thời xảy ra. - Hai biến cố A và B xung khắc khi và chỉ khi A B = .

❖ Định lí: - Nếu A và B là hai biến cố xung khắc thì P(A B) = P(A) + P(B) (cộng xác suất của hai biến cố xung khắc). - Cho A1, A2, A3,…,Ak đôi một xung khắc. Hai biến cố giao ❖ Định nghĩa: - Cho A và B là hai biến cố. Biến cố: “Cả A và B đều xảy ra” được gọi là biến cố giao của A và B.

- Biến cố giao của A và B là tập con của không gian mẫu . - Kí hiệu: A B hoặc AB. 10 | P a g e Nguyễn Mai Quỳnh Nhi Khóa luận tốt nghiệp 1. Hai biến cố hợp ❖ Định nghĩa: - Cho A và B là hai biến cố.

Biến cố: “A hoặc B xảy ra” được gọi là biến cố hợp của A và B. - Biến cố hợp của A và B là tập con của không gian mẫu . Hai biến cố đối ❖ Định nghĩa: - Biến cố đối của biến cố A là biến cố “A không xảy ra”. - Biến cố đối của biến cố A được kí hiệu là A 11 | P a g e Nguyễn Mai Quỳnh Nhi Khóa luận tốt nghiệp ❖ Định lí: ̅ đối nhau khi và chỉ khi: P(A) + P(A - Hai biến cố A và A ̅ ) = 1.

Một số yêu cầu cần đạt về xác suất theo CTGDPT 2018 bậc THPT 1. Các yêu cầu cần đạt về xác suất lớp 10 - Nhận biết được một số khái niệm: Phép thử ngẫu nhiên, không gian mẫu, biến cố (biến cố là tập con của không gian mẫu), biến cố đối, định nghĩa cổ điển của xác suất. - Tính xác suất trong một số bài toán đơn giản bằng phương pháp tổ hợp (trường hợp xác suất phân bố đều). - Tính xác suất trong một số bài toán đơn giản bằng cách sử dụng sơ đồ hình cây.

Các yêu cầu cần đạt về xác suất lớp 11 - Nhận biết được khái niệm biến cố hợp, biến cố giao, biến cố độc lập, biến cố xung khắc. - Tính xác suất của biến cố hợp của hai biến cố xung khắc bằng cách sử dụng công thức cộng xác suất và phương pháp tổ hợp. - Tính xác suất của biến cố giao của hai biến cố độc lập bằng cách sử dụng công thức nhân xác suất và sơ đồ hình cây. 12 | P a g e Nguyễn Mai Quỳnh Nhi Khóa luận tốt nghiệp CHƯƠNG 2.

MỘT SỐ DẠNG TOÁN VỀ GIẢI BÀI TOÁN XÁC SUẤT THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 2. Dạng toán liệt kê, đếm số phần tử 2. Dạng toán liệt kê đơn giản 2. Phương pháp giải - Bước 1: Tìm không gian mẫu n(  ).

- Bước 2: Gọi biến cố cần tìm là A, B, C,… Liệt kê số phần tử của biến cố, từ đó tìm n(A), n(B), n(C),…. - Bước 3: Tìm xác suất của biến cố được xác định bởi công thức: 𝑛(𝐴) P(A) = 𝑛(  ) 2. Dấu hiệu nhận biết - Những bài toán thực tế có phép thử ngẫu nhiên trong phạm vi nhỏ. - Số trường hợp có hạn chế và dễ đếm.

- Xác suất của mỗi trường hợp có thể được tính toán một cách trực tiếp dễ dàng. - Không có mối quan hệ phức tạp giữa các sự kiện. Ví dụ minh hoạ Ví dụ 1. Gieo một con xúc xắc có sáu mặt cân đối và đồng chất một lần.

Xác suất để xuất hiện mặt có số chấm nhỏ hơn 4 là bao nhiêu? Định hướng giải Để xúc xắc xuất hiện mặt có số chấm nhỏ hơn 4 thì các trường hợp có thể xảy ra của xúc xắc là: mặt 1 chấm, mặt 2 chấm, mặt 3 chấm. Vậy ta sẽ giải quyết bài toán này như sau: Bài giải Gọi không gian mẫu là . Vì xúc xắc có 6 mặt nên sẽ có 6 trường hợp có thể xảy ra khi gieo xúc xắc. ⇒ n(  ) = 6 Gọi A là biến cố: “Xúc xắc xuất hiện mặt có số chấm nhỏ hơn 4”.

13 | P a g e Nguyễn Mai Quỳnh Nhi Khóa luận tốt nghiệp Nên A = {1; 2; 3}. ⇒ n(A) = 3 n(A) 3 1 ⇒ P(A) = = = n(  ) 6 2 1 Vậy xác suất để xúc xắc xuất hiện mặt có số chấm nhỏ hơn 4 là. Cho một lục giác đều ABCDEF. Viết các chữ cái A, B, C, D, E, F vào 6 tấm thẻ.

Lấy ngẫu nhiên 2 thẻ. Tìm xác suất sao cho đoạn thẳng mà các đầu mút là các điểm được ghi trên 2 thẻ đó là: a) Cạnh của lục giác. b) Đường chéo của lục giác. c) Đường chéo nối 2 đỉnh đối diện của lục giác.

Định hướng giải Vì số cạnh và đường chéo của lục giác đều tương đối ít nên ta sẽ đưa về bài toán liệt kê để giải quyết bài toán này một cách trực quan hơn. Vậy ta sẽ giải quyết bài toán này như sau: Bài giải Gọi không gian mẫu là . 2 Lấy ngẫu nhiên 2 trong 6 thẻ nên n(  ) = C6 = 15. a) Gọi biến cố A: “Hai thẻ lấy ra là hai đỉnh tạo thành cạnh của lục giác”.

Vì lục giác có 6 cạnh nên n(A) = 6. 14 | P a g e Nguyễn Mai Quỳnh Nhi Khóa luận tốt nghiệp n(A) 6 2 ⇒ P(A) = = = n(  ) 15 5 2 Vậy xác suất để 2 thẻ lấy ra là 2 đỉnh tạo thành cạnh của lục giác bằng. 5 b) Gọi biến cố B: “Hai thẻ lấy ra là hai đỉnh tạo thành đường chéo của lục giác”. Ta có số đường chéo của lục giác là số đoạn thẳng nối 2 đỉnh của lục giác trừ đi số cạnh của lục giác nên n(B) = 15 – 6 = 9.

n(B) 9 3 ⇒ P(B) = = = n(  ) 15 5 Vậy xác suất để hai thẻ lấy ra là hai đỉnh tạo thành đường chéo của lục 3 giác bằng. 5 c) Gọi biến cố C: “Hai thẻ lấy ra là đường chéo nối hai đỉnh đối diện của lục giác”. Vì lục giác có 3 cặp đỉnh đối diện tạo thành một đường chéo là: A-D, B-F, C-E nên n(C) = 3. n(C) 3 1 ⇒ P(C) = = = n(  ) 15 5 Vậy xác suất để hai thẻ lấy ra là đường chéo nối hai đỉnh đối diện của lục 1 giác là.

Gieo một đồng xu cân đối đồng chất liên tiếp cho đến khi lần đầu xuất hiện mặt ngửa hoặc cả 6 lần xuất hiện mặt sấp thì dừng lại. Tính xác suất: a) A: “Số lần gieo không vượt quá ba”. b) B: “Số lần gieo là năm”. c) C: “Số lần gieo là sáu”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ