MỞ ĐẦU Bệnh bạch cầu cấp hay còn gọi là bệnh ung thƣ máu là một nhóm bệnh của cơ quan tạo máu chiếm tỷ lệ khoảng 38,5% các bệnh về máu [1]. Cũng nhƣ các bệnh ung thƣ khác, bệnh có xu hƣớng ngày càng tăng do môi trƣờng ô nhiễm, sử dụng các hóa chất bảo vệ thực vật không có kiểm soát và hậu quả của các chất da cam đioxin do chiến tranh để lại [2]. Theo thống kê của tổ chức sức khỏe thế giới WHO năm 2018, ở Việt Nam, tỉ lệ ca mắc mới bệnh ung thƣ máu chiếm 3.99% và đứng thứ 7 và tỉ lệ ngƣời chết chiếm 4.55%, đứng thứ 5 trong các bệnh ung thƣ [24]. Đặc trƣng của bệnh là sự tăng sinh quá mức của các tế bào non ác tính lấn át các tế bào tủy và xuất hiện ở máu ngoại vi.
Đặc điểm của các tế bào này là có sự rối loạn về protein và cấu trúc tế bào. Bệnh gồm nhiều thể loại khác nhau, theo tiêu chuẩn của các nhà khoa học Pháp, Mỹ và Anh (gọi tắt là tiêu chuẩn FAB) đƣợc ký hiệu từ M0 đến M7 và L1 đến L3 [22]. Việc xác định đúng, nhanh chóng thể bệnh có vai trò quyết định giúp cho bác sỹ lâm sàng áp dụng các phác đồ điều trị có hiệu quả cho ngƣời bệnh. Hiện nay, việc phân loại dòng tế bào ung thƣ máu theo tiêu chuẩn FAB chủ yếu dựa trên kết quả của ba phƣơng pháp: miễn dịch, di truyền và nhuộm hóa học tế bào.
Phƣơng pháp miễn dịch và di truyền đƣợc làm trên các máy móc hiện đại nên độ chính xác cao, nhƣng giá thành đắt, khó tiếp cận đối với bệnh nhân nghèo. Do dễ thao tác, giá thành thấp hơn so với hai phƣơng pháp trên, nên nhuộm hóa học tế bào vẫn đƣợc dùng rộng rãi trong nhiều bệnh viện và cơ sở nghiên cứu ở Việt Nam. Nhuộm hóa học tế bào gồm nhiều kỹ thuật, trong đó nhuộm esteraza không đặc hiệu dùng cơ chất naphtol AS axetat ức chế bằng NaF đƣợc sử dụng để phân loại tế bào monoxit với dòng tủy. Bình thƣờng, phản ứng nhuộm esteraza lên dƣơng tính ở tất cả các dòng tế bào vì thế đƣợc gọi là kỹ thuật nhuộm không đặc hiệu, khi sử dụng NaF làm chất ức chế thì chỉ có dòng tế bào monoxit bị ức chế hoàn toàn.
Dựa vào đặc tính này để phân loại thể bệnh bạch cầu cấp dòng monoxit với các dòng tế bào khác. Kỹ thuật phát hiện enzyme esteraza chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố nhƣ: nhiệt độ, thời gian nhuộm, nồng độ cơ chất, tác dụng của chất ức chế và 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. dễ dẫn đến kết quả sai khác so với yêu cầu của phân loại bạch cầu của FAB dẫn tới nhận định sai kết quả, ảnh hƣởng đến hiệu quả khám chữa bệnh và gây tốn kém cho ngƣời bệnh. Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu tổng hợp các alkyl cacboxylat của Naphtol AS; AS-OL; AS-CA làm cơ chất nhuộm esteraza đặc hiệu dòng mono” là một đề tài có ý nghĩa khoa học, thực tiễn và xã hội sâu sắc.
Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu phƣơng pháp mới nhằm nâng cao hiệu suất tổng hợp các alkyl cacboxylat của Naphtol AS; AS-OL; AS-CA làm cơ chất nhuộm đặc hiệu dòng monoxit tế bào bạch cầu ngƣời phục vụ việc khám và điều trị bệnh ung thƣ máu. Nội dung của nghiên cứu: 1. Nghiên cứu phƣơng pháp tổng hợp cơ chất alkyl cacboxylat của Naphtol AS, AS-OL và AS-CA; 2. Xác định cấu trúc của các hợp chất tổng hợp bằng các phƣơng pháp vật lý và hóa lý hiện đại (IR, ESI-MS và 1H-NMR); 3.
Sử dụng hợp chất tổng hợp đƣợc làm cơ chất nhuộm esteraza đặc hiệu dòng monoxit bạch cầu ngƣời phục vụ phân loại dòng tế bào trong bệnh bạch cầu cấp. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN 1. Giới thiệu hợp chất Naphtol AS-thế cacboxylat Naphtol AS-thế cacboxylat có cấu trúc nhƣ sau [7]: X X=H, Y=H Naphtol AS 2' 1' 3' O Y X=H, Y=CH3 Naphtol AS-D 8 1 4' 6' 7 9 2 NH 5' X=H, Y=OCH3 Naphtol AS-OL 10 3 6 O 5 4 X=Cl, Y=OCH3 Naphtol AS-CA O R 11 Trong đó: R: nhóm ankyl; X là nhóm thế thƣờng ở vị trí octo- hoặc para- Các dẫn xuất Naphtol AS-thế cacboxylat đƣợc ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn. Vai trò quan trọng nhất của hợp chất này là đƣợc sử dụng làm cơ chất cho kỹ thuật nhuộm esteraza không đặc hiệu tế bào bạch cầu ngƣời.
Trong khuôn khổ tổng quan này chỉ đề cập đến các tính chất hóa lý cơ bản, những phƣơng pháp tổng hợp quan trọng và một số ứng dụng phổ biến liên quan đến họ hợp chất này. Về cấu tạo, các Naphtol AS-thế carboxylat có hai nhóm chức là amit và este, đây là hai trung tâm phản ứng chính của hợp chất. Enzym esteraza trong nguyên sinh chất cả bạch cầu có thể xúc tác phản ứng thủy phân nhóm monoeste cacboxylat của các alkyl cacboxylat. Sau phản ứng thủy phân, các naphtol AS-thế mới sinh sẽ tác dụng với muối diazo tạo thành phẩm màu azo có thể quan sát dƣới kính hiển vi quang học.
Thông qua sự xuất hiện màu azo trên các vùng nguyên sinh chất của bạch cầu gián tiếp chỉ ra sự có mặt của enzyme esteraza trên bạch cầu. Hiện nay có một số este thuộc dãy Naphtol AS-thế cacboxylat đã đƣợc sản xuất thƣơngh mại dùng trong y học để xác định các enzym esteraza đặc hiệu và không đặc hiệu bạch cầu ngƣời. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các hợp 3-( N-phenyl thế)naphtalen-2-yl cacboxylat đã đƣợc thƣơng mại hóa Công thức TT Tên thƣơng mại CAS Công thức cấu tạo phân tử O NH 1.
Naphtol AS axetat 1163-67-3 C19H15NO3 O O CH3 O Naphtol AS-D NH 2. 528-66-5 C20H17NO3 CH3 axetat O O CH3 3. α-Naphtyl butanoat 3121-70-8 C14H14O2 O O CH3 1. Tổng hợp este 3-[(N-phenyl thế)carbamoyl]naphtalen-2-yl cacboxylat Các hợp chất naphtol AS thế cacboxylat đƣợc tổng hợp đi từ tiền chất là các naphtol AS-thế (tên khoa học là 3-hiđroxi-(N-phenyl thế) naphtalen-2-cacboxamit).
Các naphtol AS thế có thể đƣợc điều chế bằng phƣơng pháp trực tiếp một giai đoạn trong lò vi sóng hoặc hai giai đoạn từ axit 3-hidroxi-2-naphtoic và amin theo sơ đồ 1.1 O NH2 O OH PCl3 /SOCl 2 NH + OH OH (60-70%) Sơ đồ 1.2 COOH COCl + SOCl 2 -HCl, -SO 2 OH OH 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com COCl Anilin CONH -HCl OH OH (60%) Phản ứng este hóa trực tiếp các Naphtol AS thế với các axit cacboxylic thƣờng cho hiệu suất thấp (40-50%) [7]. Vì vậy, các este của naphtol AS thế cacboxylat thƣờng tiến hành theo phƣơng pháp Schotten- Baumann, bằng cách cho dẫn xuất naphtol tác dụng với clorua axit hoặc anhidrit axit hữu cơ trong môi trƣờng kiềm hoặc pridin nhƣ mô tả trên sơ đồ 1.3 O O X X RCOCl NH NH OH O O R O O X X (RCO) 2O NH NH H+ O OH O R Trong đó: R = alkyl; X = o-CH3, o-OCH3, -Cl, …. Tổng hợp các naphtol AS thế cacboxylat đã đƣợc Burstone [5] điều chế lần đầu tiên trên cơ sở phản ứng của naphtol AS-D với cloaxetyl clorua có mặt bazơ NaOH trong dung môi THF. Phản ứng xảy ra theo sơ đồ 1.
NaOH NH CH3 2. CH 3COCl CH3 OH OCOCH 3 Về nguyên tắc, quá trình este hóa chia làm hai giai đoạn: Ở giai đoạn 1, trong môi trƣờng kiềm, nhóm hidroxyl của naphtol AS-D sẽ chuyển hóa thành muối 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com naphtolat, ở giai đoạn 2, muối naphtolat natri sẽ tác dụng với axetyl clorua tạo thành sản phẩm este 3-[(2-methylphenyl)carbamoyl]naphtalen-2-yl axetat (sơ đồ 1.5 Giai đoạn 1: O O NH THF NH CH3 + NaOH CH3 OH ONa Giai đoạn 2: O O NH NH CH3 + CH 3 COCl CH3 O ONa H3C O Đây là phản ứng thế nucleophin. Phản ứng đƣợc bắt đầu từ sự tấn công nucleophin của anion naphtolat vào cacbon nhóm cacbonyl của alkanoyl clorua. Sản phẩm naphtol AS-thế cacboxylat đƣợc tạo thành trong quá trình cộng tách nhƣ sơ đồ 1.6 O O X X + NaOH NH NH – O OH O Cl R O O X X NH NH O O Cl O R – O R Trong đó: X: H, CH3, OCH3, Cl,… R2: nhóm alkyl 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tuy nhiên theo một số tác giả, đây là một phản ứng phức tạp, bởi trong phân tử có nhiều trung tâm hoạt động.
Khi tiến hành phản ứng tƣơng tự giữa 2-hiđroxi-N- (octo-toluidin)benzamit với cloaxetyl clorua, Herbst W.s đã không thu đƣợc dẫn xuất cloaxetat nhƣ mong muốn, mà là sản phẩm axyl hóa nhóm amit. Phản ứng xảy ra nhƣ sơ đồ 1.7 COCH2Cl CONH CON ClCH2COCl OH H3C OH H3C Hiệu suất este phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tiến hành phản ứng: Phải thực hiện ở nhiệt độ thấp để tránh phản ứng phân hủy sản phẩm este và nồng độ NaOH không quá cao. Nếu nồng độ chuyển NaOH>5M, nhóm hidroxyl sẽ phản ứng với nhóm amit tạo ra đinatri aminnolat, muối này sẽ kết tủa làm cho hiệu suất este giảm xuống [10,11] nhƣ sơ đồ 1.8 O ONa 0 NaOH, THF/60- 90 C N NH CH3 CH3 OH ONa 1. Tính chất của các alkyl cacboxylat của 3-[(N-phenyl thế)carbamoyl]naphtalen-2-yl cacboxylat 1.
Tính chất vật lý 3-[(N-phenyl thế)carbamoyl]naphtalen-2-yl cacboxylat là những chất rắn, không màu, khối lƣợng phân tử lớn, có nhiệt độ nóng chảy khá cao [7, 25]. Tùy theo nhóm thế vào vòng benzen (X,Y) và gốc axit (R) mà các este 3-[(N-phenyl thế)carbamoyl]naphtalen-2-yl cacboxylat có độ phân cực khác nhau, chúng gần nhƣ không tan trong nƣớc, nhƣng tan hoàn toàn trong các dung môi hữu cơ nhƣ clobenzen, THF, DMF, DMSO. Hầu hết các este này ít hoặc không có mùi. Đặc 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biệt các hợp chất này rất dễ phân hủy ở nhiệt độ lớn hơn -20oC nên vấn đề bảo quản chúng phải đƣợc thực hiện nghiêm ngặt [25].
Tính chất phổ Do trong phân tử có hai nhóm chức chính là amit và monoester nên các hợp chất các alkyl cacboxylat của Naphtol AS thế có các phổ đặc trƣng nhƣ sau [7]: Phổ IR: Các este 3-[(N-phenyl thế)carbamoyl]naphtalen-2-yl cacboxylat có các dao động hóa trị đặc trƣng có cƣờng độ mạnh là: dao động hóa trị của nhóm C=O este ở vùng 1715-1780 cm-1 với cƣờng độ mạnh, dao động hóa trị của nhóm NH ở gần vùng 3300 cm-1 và C=O amit cƣờng độ hấp thụ trung bình nằm ở khoảng 1648-1692 cm-1 và dao động biến dạng N-H hấp thụ ở vùng 1570-1515 cm-1. Ngoài ra còn có các băng sóng hấp thụ đặc trƣng cho dao động biến dạng của vòng benzen thế trong vùng 600-800 cm-1. Phổ 1H-NMR: Xuất hiện tín hiệu cộng hƣởng ở proton của nhóm amit NH~ 10ppm ở vùng trƣờng yếu; và các nhân phenyl và naphtyl ở 7,16-8,42 ppm.