CHƯƠNG 1 TÔN GIÁO MỚI Ở NHẬT BẢN SAU THẾ CHIẾN 2 ĐẾN NHỮNG NĂM 1990: KHÁI NIỆM, NGUYÊN NHÂN, ĐẶC ĐIỂM VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN Như chúng ta đã biết, sau khi Thế chiến 2 kết thúc, đời sống tôn giáo ở Nhật Bản diễn ra rất sôi động với diện mạo mới. Đó là sự xuất hiện ngày một nở rộ của các nhóm, các đoàn thể, hiệp hội mà sau này được gọi là “tôn giáo mới”. Tôn giáo mới phát triển thành một hiện tượng tại Nhật Bản, sau đó, hiện tượng này cũng thấy tràn lan tại nhiều quốc gia phương Tây và Châu Á khác. Tuy nhiên, sự phát triển của tôn giáo mới ở Nhật Bản là có tính điển hình so với các nước khác trên thế giới cả về tốc độ phát triển, quy mô và những nét đặc trưng phản ánh điển hình những vấn đề của xã hội hiện đại.
Vậy tôn giáo mới ở Nhật Bản là gì, chúng xuất hiện do những nguyên nhân nào, đặc điểm của chúng ra sao và sự phát triển của chúng tại Nhật Bản diễn ra như thế nào là những vấn đề chúng tôi muốn trình bày khái quát trong chương này. Khái niệm tôn giáo mới ở Nhật Bản sau Thế chiến 2 Khái niệm “Tôn giáo mới” lần đầu tiên xuất hiện tại Nhật Bản là vào thời gian sau kết thúc Thế chiến 2 (1945). Tôn giáo mới được phân biệt với các tôn giáo truyền thống mà thường là các giáo phái có nguồn gốc từ Phật giáo và Thần đạo. Có rất nhiều cách hiểu về thuật ngữ “tôn giáo mới” khác nhau.
Tùy theo góc độ tiếp cận đối tượng mà trong các công trình nghiên cứu về tôn giáo mới ở Nhật Bản cho đến nay có thế thấy thuật ngữ tôn giáo mới được hiểu theo 3 cách [20, tr.75] hay 4 cách [29, tr. Ở đây chúng tôi trình bày được phân chia theo 4 cách hiểu cơ bản theo quan điểm của Giáo sư Inoue Nobutaka của Đại học Kogakuin Nhật Bản: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cách hiểu thứ nhất cho rằng tôn giáo mới là các tôn giáo xuất hiện từ đầu thế kỷ XIX. Cách hiểu thứ hai lại cho rằng tôn giáo mới là các tôn giáo xuất hiện khoảng trong thời kỳ Duy tân Minh Trị. Cách hiểu thứ ba cho rằng tôn giáo mới là các tôn giáo xuất hiện từ đầu thế kỷ XX.
Cách hiểu cuối cùng thì cho rằng đó là các tôn giáo xuất hiện sau Thế chiến 2. Theo quan niệm thứ nhất, tức là coi tôn giáo mới là những giáo phái xuất hiện tại Nhật Bản từ đầu thế kỷ XIX thì phải kể đến hàng loạt các tổ chức tôn giáo dựa trên tín ngưỡng tôn thờ thần núi rất phổ biến vào đầu thế kỷ XIX như Fuji-kô. Những tôn giáo này được coi là những giáo phái sớm nhất của các tôn giáo mới tại Nhật Bản. Theo quan niệm thứ hai, phải kể đến các giáo phái như Kurozumikyo xuất hiện ở miền Tây Nhật Bản cùng thời gian với Konkokyo và Tenrikyo.
Ba tổ chức này đã có rất đông đảo tín đồ ngay từ ngày đầu thành lập và có ảnh hưởng mạnh đến các tổ chức tôn giáo ở các giai đoạn sau. Theo quan điểm thứ ba cho rằng tôn giáo mới xuất hiện từ đầu thế kỷ XIX thì phải kể đến giáo phái Omoto và Reiyukai xuất hiện như những phong trào quần chúng được đặc trưng bởi sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn này. Quan điểm cho rằng tôn giáo mới xuất hiện sau Thế chiến 2 dựa trên sự phát triển bùng phát của những phong trào tôn giáo mới kể từ sau 1945 dựa trên nguyên tắc phân li giữa giáo hội và nhà nước, nguyên tắc tự do tôn giáo. Mặc dù mối quan điểm đều có những mặt mạnh của nó song cũng không khỏi có những điểm còn cần phải tranh cãi.
Ngay quan điểm thứ nhất cũng dễ nhận thấy rằng mặc dù phôi thai của tôn giáo mới chắc chắn là đã xuất hiện vào khoảng đầu thế kỷ XIX, nhưng chúng chỉ có hình thái đầy đủ vào cuối thời kỳ Tokugawa (khoảng những năm 1860). Ngược lại quan điểm thứ ba có thể chỉ ra rằng, mặc dù các tôn giáo mới xuất hiện vào đầu thế kỷ XX như 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Omoto và Reiyukai nhưng không thể không chịu ảnh hưởng sâu sắc về tổ chức và giáo lí của những phong trào tôn giáo mới xuất hiện trước đó. Quan điểm cuối cùng không thừa nhận sự tiếp nối của các tôn giáo mới sau Chiến tranh với các tôn giáo xuất hiện trước đó, mà chú ý quá mức tới những biểu hiện ồn ào bề ngoài của các tôn giáo sau Thế chiến 2. Hơn thế nữa, sự khác biệt ý kiến cũng tồn tại khi nhìn nhận các phong trào được nêu nên trong danh mục các tôn giáo mới.
Vấn đề liên quan đến hai mối quan tâm cơ bản. Thứ nhất là liên quan đến sự phân biệt được rút ra giữa tôn giáo mới và các phong trào đổi mới trong các tôn giáo đã tồn tại, nhất là trong các tôn giáo truyền thống. Quan điểm thứ hai liên quan đến sự phân biệt giữa các tôn giáo mới và tôn giáo dân gian [29, tr. Không có một quan điểm rõ ràng nào được đưa ra với vấn đề liên quan thứ nhất nhưng phần lớn đều quan niệm rằng một tôn giáo được coi là “mới” nếu nó bắt đầu với một thủ lĩnh mới, được gọi bằng cái tên mới, thậm chí quan hệ mật thiết của nó với các giáo phái truyền thống trước đó cũng được hiểu như cơ sở của sự đổi mới.
Cuộc tranh luận để đi đến việc phân biệt giữa tôn giáo mới và tôn giáo dân gian tập trung vào những đặc tính về tổ chức. Trong trường hợp những đoàn thể tôn giáo nhỏ được chỉ đạo bởi những nhân vật kiểu “ông đồng bà cốt” hay “nhà thần” (Ogamiya) thì việc xác minh nó thuộc nhóm tôn giáo mới hay tôn giáo dân gian là rất khó khăn. Trong một số lượng nhỏ các tổ chức, những tín đồ thường có liên hệ đến thủ lĩnh của nhóm như là những “khách hàng”. Một số tổ chức trong số đó có biểu hiện hoạt động giống như các nhóm tôn giáo mới có quy mô lớn.
Như vậy là, việc quyết định một tổ chức tôn giáo thuộc về nhóm tôn giáo nào đó cần dựa vào mức độ đổi mới của nó về tư tưởng và mục đích mà nhóm đó thể hiện. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong luận văn này, do mục đích muốn tìm hiểu đặc điểm của đời sống tôn giáo mới giai đoạn sau Thế chiến 2 cho đến những năm 1990 nên nếu khu biệt, loại trừ các tôn giáo mới xuất hiện những năm trước đó thì việc xem xét sẽ trở nên phiến diện, vì nói đến các tôn giáo mới sau chiến tranh không thể không đề cập đến các tôn giáo mới vừa xuất hiện trong giai đoạn trước đó, hoặc về căn bản đã định hình trong những giai đoạn trước đó còn ảnh hưởng rất sâu sắc đến đời sống tôn giáo mà luận văn đề cập đến, chẳng hạn như trường hợp của Giáo phái Omoto hay Soka Gakkai. Chính vì luận văn sử dụng thuật ngữ “tôn giáo mới’ theo cách hiểu thứ 3 và thứ 4, tức các tôn giáo xuất hiện sau 1945 và những tôn giáo đã có từ đầu thế kỷ thứ XX nhưng đang tiếp tục tồn tại trong giai đoạn sau này. Nguyên nhân xuất hiện của các tôn giáo mới ở Nhật Bản sau Thế chiến 2 Mặc dù ở Nhật Bản tôn giáo mới là một hiện tượng từng xuất hiện từ các giai đoạn trước Thế chiến 2, nhưng giai đoạn kể từ sau kết thúc chiến tranh, tôn giáo mới ở Nhật Bản có diện mạo rất đặc trưng.
Trước hết là sự phát triển nhanh chóng có tính bùng phát về lượng tạo ra sự thay đổi nhanh chóng diện mạo đời sống tôn giáo trên quần đảo này. Trước 1945 ở Nhật Bản chỉ có 43 tổ chức tôn giáo được nhà nước chính thức thừa nhận, trong đó có 13 tổ chức Thần đạo, 20 tổ chức Phật giáo, 2 tổ chức Kitô giáo (1 Thiên chúa giáo và 1 Tin lành). Nhưng sau khi Sắc lệnh Pháp nhân Tôn giáo (宗教法人 令) được ban hành thì các nhóm độc lập mới tách ra từ các tổ chức tôn giáo cũ và các tổ chức tôn giáo mới đăng ký hoạt động tăng nhanh đến mức cuối năm 1949 số các giáo phái lên đến 430. Số các đền, chùa, nhà thờ tách ra khỏi tổ chức mẹ để trở thành các tổ chức tôn giáo độc lập lên đến 1546) [20, tr.
Mặc dù suốt hơn nửa thế kỷ qua cùng với những bước thăng trầm của đời sống kinh tế - xã hội ở Nhật Bản các tôn giáo mới cũng có những bước 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát triển rất khác nhau trong mỗi giai đoạn, nhưng chiều hướng chung đáng chú ý là số lượng các đoàn thể tôn giáo vẫn tiếp tục tăng [20, tr. Theo thống kê của Niên giám tôn giáo Nhật Bản xuất bản năm 2008 thì tính đến ngày 30 tháng 12 năm 2007 tổng số các tổ chức tôn giáo trên toàn lãnh thổ Nhật Bản lên tới 223.428 đơn vị bao gồm cả các tổ chức đã có tư cách pháp nhân và chưa có tư cách pháp nhân.861 tổ chức thuộc hệ Thần đạo, 85.897 tổ chức thuộc hệ Phật giáo, 9.260 tổ chức thuộc hệ Kitô và 39.410 tổ chức khác. Nếu chỉ tính riêng các đoàn thể tôn giáo đã được công nhận tư cách pháp nhân thì có tới 182.310 tổ chức, trong đó 85.313 tổ chức thuộc hệ Thần đạo, 77.544 tổ chức thuộc hệ Phật giáo, 4.347 tổ chức thuộc hệ Kitô và 15.106 tổ chức khác [42, tr. Người ta đặt câu hỏi “tại sao số lượng các tổ chức tôn giáo mới ở Nhật Bản lại tăng lên nhanh chóng như vậy?” Sau đây là ba nguyên nhân chính được nhiều nhà nghiên cứu tôn giáo mới của Nhật Bản đưa ra mà chúng tôi cho là có sức thuyết phục hơn cả: Thứ nhất là sự thay đổi chính sách tôn giáo.
Nếu so với chính sách tôn giáo của Nhật Bản giai đoạn trước thì sau khi kết thúc Thế chiến 2, chính sách tôn giáo của Nhật Bản đã thay đổi căn bản. Nguyên tắc “tế chính nhất trí” vốn tồn tại hàng nghìn năm trong lịch sử Nhật Bản đã bị bãi bỏ. Thay vào đó là nguyên tắc “chính giáo phân li”, hoạt động tôn giáo và hoạt động nhà nước là độc lập. Hơn thế nữa, theo Hiến pháp Nhật Bản 1946 và Luật Pháp nhân tôn giáo, các tổ chức tôn giáo không được quyền tham gia vào các hoạt động của Nhà nước, không tham gia vào hoạt động chính trị.