ĐẶT VẤN ĐỀ Theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Thông tư số 14/2012/TT- BTNMT của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về kỹ thuật điều tra thoái hóa đất, đất đai được hiểu: “Là một vùng đất có ranh giới, vị trí, diện tích cụ thể và có các thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi nhưng có tính chu kỳ, có thể dự đoán được, có ảnh hưởng tới việc sử dụng đất trong hiện tại và tương lai của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội như: thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thuỷ văn, thực vật, động vật cư trú và hoạt động sản xuất của con người”. Vai trò của đất đai đối với từng ngành là khác nhau. Trong các ngành phi nông nghiệp, đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng dự trữ trong lòng đất (các ngành khai thác khoáng sản). Trong các ngành nông - lâm nghiệp, đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất, là điều kiện vật chất – cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động (luôn chịu sự tác động của quá trình sản xuất như cày, bừa, xới xáo….) và công cụ hay phương tiện lao động (sử dụng để trồng trọt, chăn nuôi…).
Quá trình sản xuất nông - lâm nghiệp luôn liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu và quá trình sinh học tự nhiên của đất (Lương Văn Hinh và cs, 2003)[8]. Để đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững thì quản lý đất bền vững đóng một vai trò quan trọng (Julian Dumanski, 1997)[45], nên nghiên cứu về bền vững trong quản lý tài nguyên đất đã được chọn làm đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học. Tuy nhiên, các nghiên cứu đã được thực hiện cho đến nay chủ yếu được tiến hành trên đối tượng chính là đất sử dụng cho các mục đích sản xuất nông nghiệp (Brouwer, 2008; Kassie và Zikhali, 2009; Nguyễn Văn Bình, 2017; Srinivasarao và cs, 2013; Tôn Thất Lộc và cs, 2019; Trần Văn Tuấn và cs, 2015) [34; 68; 1; 110; 12; 16], các nghiên cứu trên đối tượng là đất rừng thường tập trung theo hướng: nghiên cứu chất hữu cơ trong đất (Akselsson và cs, 2007; Burger và Kelting, 1999; Hopmans và cs, 2005) [23; 36; 59], ảnh hưởng của hoạt động lâm nghiệp đến quản lý bền vững đất rừng (Worrell và Hampson, 1997) [122], hoặc quản lý rừng bền vững (Burger và cs, 2010; Imanuddin và cs, 2020; Keleş, 2019) [35; 62; 70] mà chưa có các nghiên cứu đáng ghi nhận về quản lý bền vững đất rừng. Rừng là tài nguyên quý báu của quốc gia, là bộ phận quan trọng của môi trường sống, có giá trị to lớn không chỉ đối với nền kinh tế đất nước, mà còn có vai trò quan trọng đối với phát triển sinh kế của 2 cộng đồng và bảo vệ môi trường sinh thái.
Trong đó, hệ sinh thái rừng khộp là hệ sinh thái độc đáo, hiếm có trên thế giới, hiện chủ yếu chỉ còn ở Đông Nam Á. Các hệ sinh thái rừng khộp ở Đông Nam Á rất đa dạng, rừng không đồng đều, đa tầng, phát triển quanh năm ở nơi có nhiệt độ rất ấm, có lượng mưa lớn, đất dinh dưỡng thấp (Andreas và Schone, 1996) [25]. Rừng khộp Đông Nam Á là một trong những hệ sinh thái nhiệt đới bị đe dọa nhiều nhất trên thế giới, hiện chỉ còn khoảng 16 % tổng diện tích rừng khộp còn là rừng nguyên sinh (Chechina, 2015) [37]. Ở Việt Nam, rừng khộp tập trung phần lớn ở Tây Nguyên (Huy và cs, 2017) [61].
Đến nay, đã có rất nhiều nghiên cứu được tiến hành đối với hệ sinh thái rừng khộp ở Tây Nguyên, một số nghiên cứu có thể kể đến như: nghiên cứu về sinh thái rừng khộp (Brearley và cs, 2016) [33], phân tích và quản lý động thái lâm phần (Nguyen và cs, 2012) [85], quan hệ giữa cường độ khai thác gỗ và trữ lượng các bon (Stas và cs, 2020)[111], mô hình hóa tốc độ tăng trưởng và sản lượng rừng khộp ở Tây nguyên Việt Nam (Nguyễn Thanh Tân, 2009) [84], cấu trúc và thành phần rừng khộp rụng lá ở miền Trung Việt Nam (Chương và cs, 2016) [3], phục hồi rừng (Do và cs, 2019) [44], làm giàu rừng khộp bằng cây gỗ tếch (Huy và cs, 2017) [61]…Tuy nhiên nghiên cứu về quản lý bền vững tài nguyên đất rừng khộp vẫn chưa được thực hiện. Vườn quốc gia (VQG) Yok Đôn được thành lập theo Quyết định số 301/TCLĐ ngày 24 tháng 6 năm 1992 của Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp, là VQG duy nhất ở Việt Nam có nhiệm vụ quản lý và bảo vệ hệ sinh thái rừng khộp, với diện tích 58. Đến năm 2002, Yok Đôn được mở rộng và nằm trên địa phận 2 tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông với tổng diện tích tự nhiên là 115.545 ha, chủ yếu là rừng đặc dụng (Vườn quốc gia Yok Đôn, 2021). Song hiện nay, do một số hạn chế trong chính sách quản lý, hoạt động khai thác trái phép tài nguyên lâm sản, tác động của biến đổi khí hậu, … VQG Yok Đôn đang phải đối mặt với thực trạng suy thoái nguồn tài nguyên, thể hiện qua sự suy giảm trữ lượng gỗ và đa dạng sinh học, thực trạng này kéo theo việc giảm trữ lượng các bon tích trữ trong sinh khối thực vật và trong đất rừng.
Điều này đã tác động trực tiếp đến hiệu quả quản lý đất của Vườn. Để thực hiện tốt nhiệm vụ bảo tồn hệ sinh thái rừng khộp, bên cạnh công tác bảo vệ, duy trì nguồn gen động thực vật trong điều kiện môi trường tốt nhất, thì việc quản lý bền vững nguồn quỹ đất của Vườn cũng đóng góp một phần rất quan trọng. Xuất phát từ thực tế trên, 3 thực hiện nghiên cứu về: “Quản lý bền vững đất rừng khôp tại vườn quốc gia Yok Đôn” không chỉ đáp ứng được nhu cầu trên thực tiễn, mà thông qua đó đã bước đầu xây dựng được một bộ tiêu chí phục vụ đánh giá mức độ bền vững trong quản lý đất rừng tại các VQG, khu bảo tồn. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2.
Mục tiêu chung Phân tích được thực trạng quản lý đất rừng khộp. Xây dựng được bộ tiêu chí đánh giá quản lý bền vững đất rừng khộp, ứng dụng tích hợp công cụ METT và AHP đưa ra con số đinh lượng cho từng tiêu chí đánh giá. Từ đó phân tích, đánh giá được mức độ bền vững trong quản lý đất rừng khộp tại VQG Yok Đôn. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá được thực trạng quản lý đât rừng khộp.
- Đánh giá được mức độ bền vững về kinh tế trong quản lý đất rừng khộp. - Đánh giá được mức độ bền vững về xã hội trong quản lý đất rừng khộp. - Đánh giá được mức độ bền vững về môi trường trong quản lý đất rừng khộp. - Đánh giá được mức độ bền vững trong quản lý đất rừng khộp, từ đó đề xuất được các giải nâng cao tính bền vững trong công tác quản lý đất rừng khộp.
Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 3. Ý nghĩa khoa học - Nghiên cứu đã bước xây dựng được bộ tiêu chí và quy trình đánh giá mức quản lý bền vững đất rừng khộp tại VQG Yok Đôn. - Nghiên cứu đã xây dựng được một phương pháp ước tính nhanh trữ lượng các bon hữu cơ trong đất (SOC – soil organic các bon) rừng khộp tại địa bàn nghiên cứu. Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả nghiên cứu đã cung cấp cho ban quản lý VQG Yok Đôn những dữ liệu định lượng về mức độ bền vững trong quản lý đất rừng khộp.
Qua đó, giúp Ban quản lý Vườn nhận biết được những ưu điểm, cũng như những hạn chế trong công tác quản lý quỹ đất, tài nguyên lâm sản tại Vườn, từ đó xây dựng chính sách quản lý phù hợp và hiệu quả. - Trong bộ dữ liệu thu được, trữ lượng các bon hữu cơ trong đất rừng khộp là một bộ dữ liệu có giá trị. Nó không chỉ phản ánh lên được 4 hiệu quả môi trường trong việc quản lý quỹ đất, góp phần kiện toàn dữ liệu về các bon trong hệ sinh thái rừng, mà còn là minh chứng cho vai trò quan trọng của đất, hệ sinh thái rừng khộp trong việc giúp giảm thiểu biến đổi khí hậu. - Nghiên cứu đã đưa ra một bộ giải pháp nhằm nâng cao tính bền vững trong quản lý quỹ đất rừng khộp của Vườn.
Ban quản lý Vườn có thể tham khảo, vận dụng linh hoạt bộ giải pháp này phù hợp với từng giai đoạn và hoàn cảnh cụ thể. ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN - Đã xây dựng được một bộ tiêu chí gồm 3 tiêu chí chính và 9 tiêu chí thành phần phục vụ cho mục tiêu đánh giá mức độ bền vững trong quản lý đất rừng khộp; - Đã xây dựng được phương pháp ước tính nhanh trữ lượng các bon hữu cơ trong đất (SOC) rừng khộp. - Đã tích hợp được phương pháp AHP vào công cụ METT phục vụ cho mục tiêu đánh giá quản lý bền vững đất rừng. TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
TỔNG QUAN VỀ ĐẤT, ĐẤT LÂM NGHIỆP Đưa ra các khái niệm về đất, đất đai, đất lâm nghiệp và vai trò của đất trong tự nhiên 1. RỪNG KHỘP Các lý luận được đề cập đến gồm: - Khái niệm và phân bố rừng khộp; - Đặc trưng về sinh thái; - Chức năng, nhiệm vụ của VQG Yok Đôn. VAI TRÒ CỦA RỪNG TRONG TỰ NHIÊN Nghiên cứu đã tiến hành phân tích vai trò của rừng , tài nguyên rừng đối trong đời sống và sản xuất, đời sống xã hội và kinh tế. PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ CÁC YẾU TỐ ĐẢM BẢO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Nghiên cứu tập trung vào trình bày và phân tích các quan điểm trong và ngoài nước về phát triển bền vững, các yếu tố đảm bảo cho phát triển bền vững.
QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ TIÊU CHÍ ĐƯỢC LỰA CHỌN ĐÁNH GIÁ QUẢN LÝ BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN ĐẤT VÀ QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG Cung cấp một bức tranh tổng quát về: - Các hướng nghiên cứu quản lý bền vững tài nguyên đất và tài nguyên rừng; - Các lý luận, quan điểm và các tiêu chí mà các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã lựa chọn để đánh giá quản lý bền vững tài nguyên đất và rừng 1. ỨNG DỤNG CÔNG CỤ THEO DÕI HIỆU QUẢ QUẢN LÝ (METT – MANAGEMENT EFFECTIVENESS TRACKING TOOL) TRONG ĐÁNH GIÁ QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG TẠI CÁC KHU BẢO TỒN Giới thiệu khái quát về các công cụ được các các khu bảo tồn, vườn quốc gia… sử dụng phục vụ đánh giá quản lý rừng bền vững. Trong đó, công cụ METT là một công cụ hiệu quả và được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới.