Luận án TS Lê Thị Thanh Huyền: Kinh doanh du lịch di sản văn hóa Việt Nam 2021

Tóm tắt luận án phân tích mô hình kinh doanh du lịch di sản văn hóa tại Việt Nam. Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển ngành du lịch bền vững.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

336
0
0

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về kinh doanh du lịch di sản văn hóa ở Việt Nam

Du lịch di sản văn hóa là hướng phát triển kinh tế trọng điểm của Việt Nam. Đất nước sở hữu hệ thống di sản phong phú với hàng nghìn di tích lịch sử, lễ hội truyền thống và làng nghề thủ công. Luận án của Lê Thị Thanh Huyền (2021) thuộc ngành Quản trị kinh doanh, Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Nghiên cứu phân tích toàn diện hoạt động kinh doanh du lịch gắn liền với các di sản văn hóa trên cả nước. Khung lý thuyết dựa trên mô hình Hệ thống Du lịch Chức năng (FTS) của Clare Gunn với năm thành tố cung: điểm đến, dịch vụ, giao thông vận tải, thông tin và quảng bá. Nghiên cứu áp dụng lý thuyết tương tác cộng đồng của Jamal và Getz. Phương pháp kết hợp định tính và định lượng, bao gồm điều tra thị trường, phỏng vấn sâu và phân tích dữ liệu thứ cấp từ Hội An, Văn Miếu Quốc Tử Giám và các di tích khảo cổ học.

1.1. Khái niệm và nội hàm du lịch di sản văn hóa

Du lịch di sản văn hóa là hoạt động tham quan, trải nghiệm các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của một vùng đất. Di sản bao gồm công trình kiến trúc, di tích khảo cổ, lễ hội, nghệ thuật truyền thống và tri thức dân gian. Kinh doanh du lịch di sản văn hóa là quá trình tổ chức, khai thác và cung cấp dịch vụ du lịch dựa trên giá trị di sản. Hoạt động này đòi hỏi sự cân bằng giữa mục tiêu kinh doanh và trách nhiệm bảo tồn. Tại Việt Nam, các điểm đến như Huế, Hội An, Mỹ Sơn thu hút hàng triệu lượt khách mỗi năm.

1.2. Vai trò của kinh doanh du lịch di sản văn hóa

Kinh doanh du lịch di sản văn hóa đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Hoạt động này tạo ra nguồn thu nhập đáng kể cho địa phương và quốc gia. Du lịch di sản giúp tạo việc làm cho cộng đồng dân cư sống xung quanh khu vực di tích. Nguồn lợi từ du lịch được tái đầu tư vào công tác trùng tu, tôn tạo di tích. Hoạt động này còn góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị văn hóa truyền thống. Du lịch di sản văn hóa trở thành cầu nối quảng bá hình ảnh đất nước đến bạn bè quốc tế.

II. Phân tích thực trạng kinh doanh du lịch di sản văn hóa

Việt Nam hiện có hơn 40.000 di tích lịch sử văn hóa được kiểm kê. Nhiều di tích đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới. Tiềm năng phát triển du lịch di sản văn hóa là rất lớn. Tuy nhiên, thực tiễn kinh doanh còn tồn tại nhiều hạn chế. Nhiều di sản chưa được khai thác hiệu quả về mặt thương mại. Sản phẩm du lịch thiếu sự đa dạng và sáng tạo. Chất lượng dịch vụ tại một số điểm di sản chưa đáp ứng kỳ vọng du khách. Hạ tầng giao thông kết nối đến các vùng di sản còn yếu kém. Công tác quản lý lỏng lẻo dẫn đến tình trạng thương mại hóa quá mức. Nguồn nhân lực du lịch chuyên sâu về di sản văn hóa còn thiếu và yếu. Sự phối hợp giữa cơ quan quản lý di sản và doanh nghiệp du lịch chưa chặt chẽ. Nhận thức cộng đồng về bảo tồn di sản trong kinh doanh còn nhiều bất cập.

2.1. Tiềm năng và cơ hội phát triển

Việt Nam sở hữu hệ thống di sản văn hóa đa dạng trải dài từ Bắc vào Nam. Các di sản được UNESCO công nhận như Vịnh Hạ Long, Quần thể di tích Cố đô Huế, Phố cổ Hội An tạo sức hút lớn. Lượng khách quốc tế tăng trưởng liên tục qua các năm. Thị trường du lịch nội địa cũng phát triển mạnh mẽ. Chính phủ ban hành nhiều chính sách hỗ trợ, trong đó Nghị quyết 08-NQ/TW xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn. Các hiệp định thương mại tự do mở ra cơ hội hợp tác quốc tế.

2.2. Thách thức và hạn chế hiện tại

Nhiều di sản văn hóa đối mặt nguy cơ xuống cấp do khai thác thiếu kiểm soát. Tình trạng ô nhiễm môi trường tại các khu di tích ngày càng nghiêm trọng. Giá trị văn hóa nguyên bản bị biến dạng bởi thương mại hóa quá mức. Cộng đồng địa phương chưa được tham gia đầy đủ vào quá trình kinh doanh du lịch. Xung đột lợi ích giữa bảo tồn và phát triển kinh tế diễn ra phổ biến. Nguồn lực đầu tư cho hạ tầng du lịch tại vùng di sản còn hạn chế. Công nghệ số chưa được ứng dụng rộng rãi trong quản lý và quảng bá di sản.

III. Giải pháp phát triển kinh doanh du lịch di sản văn hóa

Luận án đề xuất nhiều giải pháp phát triển kinh doanh du lịch di sản văn hóa hiệu quả. Giải pháp đầu tiên là ứng dụng mô hình Hệ thống Du lịch Chức năng (FTS) của Clare Gunn để đánh giá toàn diện năm thành tố cung. Điểm đến cần được đầu tư nâng cấp và bảo tồn đúng cách. Dịch vụ du lịch phải đa dạng, chất lượng và mang đậm bản sắc văn hóa. Hệ thống giao thông kết nối cần cải thiện đồng bộ. Thông tin về di sản phải đầy đủ, chính xác và dễ tiếp cận. Chiến lược quảng bá cần áp dụng công nghệ số và mạng xã hội. Giải pháp thứ hai là xây dựng chiến lược phát triển bền vững. Phát triển bền vững đòi hỏi hài hòa giữa kinh tế, văn hóa và môi trường. Cộng đồng địa phương phải trở thành chủ thể trong kinh doanh du lịch. Nguồn nhân lực cần được đào tạo chuyên sâu về di sản và nghiệp vụ du lịch.

3.1. Mô hình hệ thống du lịch chức năng FTS

Mô hình FTS của Clare Gunn và Turgut Var (2002) tiếp cận hệ thống du lịch từ hai phía cung và cầu. Phía cầu xác định nhóm dân cư có nhu cầu, khả năng tài chính và thời gian đi du lịch. Phía cung gồm năm thành tố: điểm đến, dịch vụ, giao thông, thông tin và quảng bá. Shelby Herrin (2015) hiệu chỉnh mô hình bằng cách ghép thành tố thông tin và quảng bá. Mô hình này được áp dụng thành công tại nhiều quốc gia. Nghiên cứu tại Jenkins County, Georgia chứng minh tính hiệu quả của FTS trong đánh giá phát triển du lịch di sản.

3.2. Chiến lược phát triển bền vững du lịch di sản

Phát triển bền vững du lịch di sản văn hóa cần đảm bảo ba trụ cột kinh tế, văn hóa và môi trường. Về kinh tế, cần tối ưu hóa nguồn thu nhưng không phụ thuộc hoàn toàn vào một ngành. Về văn hóa, giá trị nguyên bản của di sản phải được bảo tồn trong mọi hoạt động kinh doanh. Về môi trường, cần kiểm soát số lượng khách và giảm thiểu tác động tiêu cực. Chính sách quản lý phải có cơ chế giám sát chặt chẽ. Công nghệ số hỗ trợ quản lý lượng khách và bảo vệ di sản. Hợp tác quốc tế giúp tiếp cận kinh nghiệm và nguồn lực phát triển.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của luận án

Luận án mang lại nhiều đóng góp quan trọng cho lý luận và thực tiễn về kinh doanh du lịch di sản văn hóa. Về lý luận, nghiên cứu xây dựng khung lý thuyết hoàn chỉnh kết hợp mô hình FTS với lý thuyết tương tác cộng đồng. Đây là cách tiếp cận mới trong nghiên cứu du lịch di sản tại Việt Nam. Về thực tiễn, luận án cung cấp cơ sở dữ liệu quý giá từ các điểm di sản tiêu biểu. Các cuộc điều tra tại Hội An, Văn Miếu Quốc Tử Giám và các di tích khảo cổ cung cấp cái nhìn toàn diện. Kết quả giúp các nhà quản lý đánh giá đúng thực trạng kinh doanh du lịch. Từ đó, hoạch định chiến lược phát triển phù hợp với từng loại hình di sản. Luận án chỉ ra tầm quan trọng của sự tham gia cộng đồng trong phát triển du lịch. Ứng dụng kết quả nghiên cứu góp phần phát triển du lịch di sản bền vững tại Việt Nam.

4.1. Đóng góp lý luận của luận án

Luận án tổng hợp và hệ thống hóa cơ sở lý luận về kinh doanh du lịch di sản văn hóa. Nghiên cứu phân tích các công trình khoa học trong và ngoài nước một cách toàn diện. Luận án xây dựng mô hình nghiên cứu dựa trên FTS kết hợp lý thuyết tương tác cộng đồng. Đây là đóng góp mới trong lĩnh vực quản trị kinh doanh du lịch. Nghiên cứu xác định các yếu tố thành công của hoạt động kinh doanh du lịch di sản. Phương pháp kết hợp định tính và định lượng đảm bảo độ tin cậy cao. Kết quả mở ra hướng nghiên cứu mới cho các công trình sau này.

4.2. Khuyến nghị cho thực tiễn kinh doanh

Các nhà quản lý cần ứng dụng mô hình FTS để đánh giá hệ thống du lịch di sản tại địa phương. Doanh nghiệp nên đầu tư phát triển sản phẩm du lịch gắn liền với giá trị văn hóa bản địa. Đào tạo nguồn nhân lực chuyên sâu về di sản là ưu tiên hàng đầu. Ứng dụng công nghệ số trong quảng bá và quản lý du lịch cần được đẩy mạnh. Cộng đồng địa phương phải được tham gia vào quá trình ra quyết định. Chính sách bảo tồn cần gắn liền với chiến lược kinh doanh dài hạn. Hợp tác công - tư là mô hình hiệu quả để phát triển du lịch di sản bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Tóm tắt luận án kinh doanh du lịch di sản văn hóa ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu khoa học trên thế giới về KDDLDSVH khá đa dạng tuy nhiên chưa thấy có nghiên cứu nào đề cập đến trường hợp KDDLDSVH ở Việt Nam. Du lịch là loại hình kinh doanh dịch vụ có từ lâu đời, do vậy các nghiên cứu là rất phong phú, sâu rộng với rất nhiều chuyên ngành hẹp khác nhau. Kinh doanh du lịch gắn với di sản văn hóa (DSVH) là một khái niệm không xa lạ đối với các nhà nghiên cứu khoa học, các tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh du lịch, thậm chí là khách du lịch ở các nước phương Tây như Mỹ, Pháp, Thụy Điển, Anh, Ý… Do vậy, hệ thống lý thuyết, các quan điểm về DLDSVH được định hình và phát triển rất mạnh trên thế giới. Hiện nay có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về Du lịch nói chung và mô hình DLDSVH nói riêng với các nội dung và mục đích khác nhau.

Kinh doanh du lịch có nhiều mô hình khác nhau như mô hình du lịch cộng đồng (Community-Based tourism), mô hình du lịch sinh thái (Ecotourism), mô hình du lịch sức khỏe (Health & Wellness tourism), mô hình du lịch mạo hiểm (Adventure tourism), mô hình du lịch nông thôn (Rural tourism), mô hình du lịch biển (maritime tourism)… Trong đó, mô hình DLDSVH (Cultural Heritage Tourism) là một mô hình kinh doanh du lịch hướng tới sự phát triển bền vững, có nội hàm phát triển du lịch đồng thời với việc bảo tồn các DSVH. Một số các nghiên cứu mà tác giả được tiếp cận, có thể chia ra thành các chủ đề như sau: 1. Các công trình nghiên cứu về kinh doanh du lịch 1. Các nghiên cứu về nội dung của du lịch và kinh doanh du lịch Có rất nhiều quan điểm và khái niệm khác nhau về du lịch.

Một trong số những nghiên cứu sâu sắc và tổng thể nhất về du lịch là cuốn sách The business of tourism của J Christopher Holloway, Claire Humphreys, Rob Davidson (2009). Cuốn sách trích lược một số khái niệm về du lịch như sau: “Du lịch là những di chuyển ngắn hạn tạm thời của người dân đến các điểm 21 bên ngoài nơi mà họ thường sống và làm việc và các hoạt động trong suốt thời gian họ ở tại các điểm này; nó bao gồm sự di chuyển cho tất cả các mục đích cũng như các chuyến thăm hoặc du ngoạn trong ngày” (Viện nghiên cứu du lịch Anh Quốc, 1976: 8). Định nghĩa này đã được điều chỉnh lại một chút tại Hội nghị Quốc tế về Giải trí - Tái tạo - Du lịch được tổ chức bởi AIEST và Tourism Society năm 1981, Du lịch có thể được xác định theo các hoạt động cụ thể được sàng lọc bởi những lựa chọn và được thực hiện ở bên ngoài môi trường gia đình. Du lịch có thể không liên quan đến việc ở xa qua đêm.

Năm 1993, Ủy ban Thống kê của Liên Hợp Quốc đã trích dẫn định nghĩa về du lịch do WTO đưa ra vào năm 1991 “Du lịch bao gồm các hoạt động của những người đi du lịch và lưu trú ở những nơi bên ngoài môi trường thông thường của họ không quá một lần liên tiếp trong năm để giải trí, kinh doanh hoặc các mục đích khác”. Định nghĩa trên cũng đồng quan điểm và được bổ sung rộng hơn đối với ngành Khách sạn, Dịch vụ ăn uống và Du lịch (Hotels, Catering and Tourism - HCT) bởi Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đó là “Du lịch không chỉ bao gồm các dịch vụ cung cấp cho khách du lịch mà còn cả cho người dân. Đối với ILO, HCT bao gồm: khách sạn, nhà trọ, nhà nghỉ, trại du lịch và trung tâm nghỉ mát; nhà hàng, quán bar, quán ăn tự phục vụ, quán ăn nhanh, quán rượu, câu lạc bộ đêm và các cơ sở tương tự; tổ chức cung cấp bữa ăn và giải khát trong bệnh viện, nhà máy, căng tin văn phòng, trường học, máy bay và tàu thuyền; các đại lý du lịch, các tổ chức hướng dẫn viên du lịch và văn phòng thông tin du lịch; và các trung tâm hội nghị triển lãm” (ILO, 2011). Trong khi đó UNWTO định nghĩa “Du lịch là một hiện tượng xã hội, văn hóa và kinh tế đòi hỏi sự di chuyển của mọi người đến các quốc gia hoặc những nơi bên ngoài môi trường thông thường của họ cho mục đích cá nhân hoặc kinh doanh/ chuyên môn.

Những người này được gọi là du khách (có thể là khách du lịch hoặc người đi tham quan; cư dân hoặc không phải cư dân) và du lịch phải thực hiện cùng với các hoạt động của họ, một số trong đó liên quan đến chi tiêu du lịch (UNWTO, 2008). UNWTO cũng nói, Các ngành công nghiệp du 22 lịch chủ yếu là lao động và cung cấp việc làm cho nhiều người. Họ bao gồm các chuyên gia được đào tạo tốt, nhưng cũng có một số lượng lớn công nhân gặp khó khăn khi tìm việc ở nơi khác, chẳng hạn như người mới gia nhập vào thị trường lao động (thanh niên và người di cư), phụ nữ có trách nhiệm gia đình chỉ có thể làm việc bán thời gian và công nhân ít trình độ chuyên môn nói chung. Du lịch cung cấp cho người lao động thu nhập và kinh nghiệm, và do đó đóng góp cho sự hòa nhập xã hội và phát triển cá nhân của họ.

Trong cuốn Heritage or Heresy, Archaeology and Culture on Maya Riviera của tác giả Cameron Jean Walker, 2009 có trích dẫn đến quan điểm của Thomas Lea Davidson (1994:22) đến Du lịch rằng “du lịch thường được mô tả theo thuật ngữ kinh tế là một ngành công nghiệp và, như vậy, đã được sử dụng và ghi nhận theo cách tương tự như các ngành công nghiệp khác như nông nghiệp. Trong một bài viết có tiêu đề “Thế nào là Du lịch và lữ hành: Chúng có thực sự là một ngành công nghiệp?” Thomas lập luận rằng chúng ta đang xem du lịch là một ngành công nghiệp đã góp phần gây ra rất nhiều hiểu lầm trong các cuộc thảo luận về du lịch. Trong kinh tế học, một ngành thường được định nghĩa là “một nhóm các doanh nghiệp độc lập và tất cả tạo ra cùng một sản phẩm”; do đó, khi được coi là một ngành công nghiệp, du lịch đề cập đến lợi ích kinh doanh kết hợp lợi ích kinh tế cụ thể của khách sạn, nhà hàng, cơ sở hạ tầng giao thông và địa điểm vui chơi. Du lịch có thể dễ dàng được coi là một hiện tượng xã hội bởi vì nó tạo ra một trải nghiệm chủ yếu dựa vào chi tiêu thay vì dựa vào các khoản thu”.

Đồng quan điểm, cuốn sách The economic Geography of the tourist industry: a supply-side analysis của hai tác giả Dimitri Ioannides và Keith G. Debbage, 1998 đã trích dẫn quan điểm của Tucker và Sundberg (1988:145) “Du lịch không phải là một ngành công nghiệp theo nghĩa thông thường vì nó không có một quy trình sản xuất, sản phẩm đồng nhất hoặc thị trường hạn chế theo địa điểm”. Leiper (1990:602) nói rằng, một công ty trong ngành công nghiệp hay kinh doanh du lịch chỉ vì nó có những khách hàng có thể được mô tả là khách du lịch. tương tự như việc quan sát những người có 23 mái tóc màu đỏ trong số những khách hàng của người bán thịt, thợ làm bánh hay nhà sản xuất nến và suy ra sự tồn tại của một “ngành công nghiệp đầu đỏ”.

Leiper tiếp tục đề xuất rằng, du lịch có thể được mô tả tốt nhất là “công nghiệp hóa một phần”. Điều này, Leiper ý muốn nói là du khách được phục vụ, như một phần của trải nghiệm du lịch, cả bởi các công ty phục vụ gần như độc quyền cho khách cũng như các công ty khác mà khách du lịch chỉ là một phần nhỏ trong cơ sở khách hàng của họ. Quy mô và cấu trúc của ngành du lịch được tạo thành từ các thành phần rất phân tán và đa dạng. Ngành du lịch bao gồm các thành phần khác nhau như công ty lữ hành, đại lý du lịch, nhà cung cấp chỗ ở, nhà vận chuyển, hiệp hội du lịch, tổ chức điểm đến và tư vấn (Mowforth và Munt 1998).

Như Bhatia (2006) đã nêu, đây là tập hợp của nhiều ngành công nghiệp khác nhau với phạm vi hoạt động đa dạng, chủ yếu nhắm vào doanh thu được tạo ra từ du lịch. Trong báo cáo Knowledge Intensive Service Activities in the Tourism Industry in Australia (2004) của Australia Government nói rằng Tổ chức Phân loại công nghiệp tiêu chuẩn Úc và New Zealand (the Australian and New Zealand Standard Industrial Classification - ANZSIC) cũng không công nhận du lịch là “một ngành công nghiệp” riêng biệt bởi vì “các ngành được phân loại theo hàng hóa và dịch vụ mà họ sản xuất, trong khi du lịch phụ thuộc vào trạng thái của người tiêu dùng” (ABS 2004:3). Với mục đích tách biệt tiêu dùng của khách du lịch ra khỏi những người không phải là khách du lịch, du lịch được định nghĩa là “hoạt động của những người đi du lịch và ở những nơi bên ngoài môi trường thông thường của họ không quá một năm liên tiếp để giải trí, kinh doanh hay các mục đích khác không liên quan đến việc thực hiện một hoạt động được trả thù lao từ trong địa điểm đã viếng thăm” (ABS 2004:48). Định nghĩa này được điều chỉnh từ định nghĩa về du lịch của UNWTO.

Tuy nhiên, trong các chương mục của tổ chức ABS Australian National Accounts, du lịch được xác định theo các tiêu chuẩn quốc tế bao gồm khách du lịch là những người đi với mục đích chính là các doanh 24 nghiệp tư nhân hay chính phủ cũng như du lịch quen thuộc hơn là mục đích giải trí (ABS, 2003). Do đó, nó không chỉ bị hạn chế trong hoạt động giải trí mà còn bao gồm cả việc đi công tác và các lí do khác như giáo dục. Nếu người đó ở lại lâu hơn 1 năm tại một địa điểm, họ không được coi là khách du lịch nữa. Fundamentals of Business của Stephen J.

Skripkak (2018) là cuốn sách giáo khoa dành cho khóa học kinh doanh của Đại học Virginia Tech’s Pamplin nói rằng “ngành kinh doanh du lịch thường được coi là ngành công nghiệp lớn nhất trên thế giới, đóng góp 10% GDP của thế giới. Trong năm 2016, có hơn 1,2 tỷ khách du lịch quốc tế: đó là tác động kinh tế đáng kể và sự di chuyển của hàng hóa và dịch vụ”. Nghiên cứu đề cập “sẽ hữu ích nếu chia du lịch thành các nhóm ngành: dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, vui chơi và giải trí, quản lý hội nghị và sự kiện, dịch vụ du lịch, câu lạc bộ riêng. Trong đó, lưu trú được định nghĩa như “công việc kinh doanh giúp mọi người cảm thấy được chào đón, thư giãn và tận hưởng bản thân”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ