Chương 1: Một số vấn đề chung về tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan trong luật Hình sự Việt Nam. Chương 2: Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 và quy định tương tự trong Bộ luật Hình sự một số nước trên thế giới về tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan. Chương 3: Thực trạng xử lý và các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật, bảo đảm thực thi của Bộ luật hình sự năm 2015 về tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan. 14 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.
Khái niệm, đặc điểm của tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan trong luật Hình sự Việt Nam 1. Khái niệm tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan Để làm rõ khái niệm tội xâm phạm quyền tác giả , quyền liên quan, trước tiên ta cần phải làm sáng tỏ những khái niệm cơ bản có liên quan như: khái niệm sở hữu trí tuệ, khái niệm quyền sở hữu trí tuệ, khái niệm tác giả, khái niệm quyền tác giả, khái niệm quyền liên quan, khái niệm tội phạm,… Khái niệm sở hữu trí tuệ: Khái niệm về sở hữu trí tuệ được đề cập rất nhiều trong khoa học pháp lý hiện đại. Trong từ điển Tiếng Việt: “trí tuệ là khả năng nhận thức lý tính đạt đến một trình độ nhất định. Đó là tài sản riêng của con người mà không một loài vật nào có được” [70].
Kết quả mà trí tuệ mang lại là tài sản trí tuệ được con người sở hữu và được Nhà nước công nhận, bảo vệ. Như vậy có thể hiểu theo cách hiểu chung nhất thì sở hữu trí tuệ là sở hữu của cá nhân, tổ chức đối với các tài sản trí tuệ - kết quả từ việc tư duy, sáng tạo của con người. Khái niệm này thể hiện sự bảo hộ của Nhà nước đối với các thành quả lao động do hoạt động của trí tuệ mang lại. Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ: WIPO – Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới giải thích quyền sở hữu trí tuệ như sau: “sáng tạo trí óc: sáng chế, tác phẩm văn học và nghệ thuật, biểu tượng, tên, ảnh và các thiết kế dùng trong thương mại.
Quyền sở hữu trí tuệ được phân thành hai loại là sở hữu công nghiệp và bản quyền”. 15 Như vậy, hiểu một cách chung nhất, quyền sở hữu trí tuệ là quyền của cá nhân, tổ chức đối với các tác phẩm trí tuệ do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Là độc quyền được công nhận cho phép họ sử dụng hay khai thác các khía cạnh thương mại của sản phẩm trí tuệ. Khái niệm tác giả: Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học.
Tác giả có thể là đơn nhất hoặc một nhóm người. Quá trình sáng tạo để tạo ra tác phẩm có thể bằng kinh phí và thời gian của chính họ (tác giả) cũng có thể bằng kinh phí của người khác hay được tạo ra do đơn đặt hàng của một chủ thể khác thông qua hợp đồng (tác giả và chủ sở hữu). Theo Điều 13 Luật Sở hữu trí tuệ, sửa đổi, bổ sung năm 2019: Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả gồm: Tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ở bất kỳ nước nào hoặc được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu tiên ở nước khác; tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Cộng hòa xã hộ chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Khái niệm quyền tác giả: Thời cổ đại ở La Mã, Hy Lạp và thời trung cổ ở châu Âu, người ta không có khái niệm về sở hữu trí tuệ.
Luật pháp chỉ làm việc với các vật thể; kể cả việc sử dụng trái phép một nô lệ cũng là sử dụng một “tài sản biết nói”. Về sau, không chỉ vật thể truyền thống như tiền, vàng, bất động sản… bị đánh cắp mà những thứ phi vật thể, trừu tượng như nội dung tác phẩm văn, thơ… cũng bị đánh cắp. Và theo nhiều nhà nghiên cứu, lịch sử quyền tác giả ở các nước trên thế giới gắn liền với công nghệ in sách. Từ đó bắt đầu hình thành quan điểm về quyền tác giả.
Đối tượng của 16 quyền tác giả không chỉ là các vật thể truyền thống mà còn là những thứ phi vật thể, trừu tượng. Tại Việt Nam hiện nay có hai thuật ngữ “ Author’s right” – quyền tác giả và “Copyright” – bản quyền đều để chỉ các quyền của tác giả, chủ sở hữu đối với tác phẩm của mình. Nguyên nhân xuất phát từ sự khác nhau về lịch sử hình thành, gắn liền với sự khác nhau giữa hệ thống luật Châu Âu lục địa (tiêu biểu là Pháp) sử dụng thuật ngữ quyền tác giả và hệ thống luật Anh-Mỹ sử dụng thuật ngữ bản quyền. Các nước thuộc hệ thống luật Châu Âu lục địa (trong đó tiêu biểu là Pháp) sử dụng thuật ngữ quyển tác giả xuất phát từ quan điểm gắn chặt mối quan hệ giữa tác giả với tác phẩm, chú trọng đến việc bảo hộ quyền của tác giả, đặc biệt là các quyền tinh thần của người sáng tạo ra tác phẩm.
Các nước thuộc hệ thống pháp luật Anh – Mỹ sử dụng thuật ngữ bản quyền lại xuất phát từ khía cạnh thương mại, nhấn mạnh đến quyền sao chép, nhân bản tác phẩm, tức là chú trọng đến giá trị kinh tế của tác phẩm, chứ không phải là nhân thân tác giả, do đó tinh thần của quyền tác giả không mấy được coi trọng [55]. Đối với Việt Nam, các văn bản pháp luật chính thức của Việt Nam như Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự … thì thuật ngữ quyền tác giả là thuật ngữ chính thức được sử dụng. Theo Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2019, quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Như vậy, có thể hiểu cách chung nhất “Quyền tác giả” chính là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.
Tác giả và chủ sở hữu tác phẩm được khai thác tác phẩm, được pháp luật bảo vệ chống lại việc sao chép bất hợp pháp. Khái niệm quyền liên quan: Bên cạnh thuật ngữ “Quyền tác giả” Theo Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2019 đề cập đến thuật ngữ “Quyền liên quan”. Khi một tác phẩm đến với công chúng 17 có thể được chính tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả là người trực tiếp thực hiện công việc chuyển tải. Tuy nhiên, để đến được tới đông đảo công chúng thì vai trò của người biểu diễn, các tổ chức sản xuất băng, đĩa ghi âm, ghi hình, các tổ chức thực hiện chương trình phát sóng là thực sự cần thiết.
Các tổ chức, cá nhân này là phương thức chuyển tải tác phẩm đến công chúng, do đó quyền của họ được pháp luật bảo hộ. Như vậy, có thể hiểu “Quyền liên quan” hay quyền liên quan đến quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa. Khái niệm quy mô thương mại: Quy mô thương mại là một thuật ngữ pháp lý được sử dụng tại Điều 61 Hiệp định TRIPS về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ: “Các thành viên phải quy định việc áp dụng các thủ tục hình sự và các hình phạt để áp dụng ít nhất đối với các trường hợp cố tình giả mạo nhãn hiệu hàng hoá hoặc vi phạm bản quyền với quy mô thương mại (commercial scale). Các biện pháp chế tài theo quy định phải bao gồm cả phạt tù và phạt tiền hoặc cả hai đủ để ngăn ngừa vi phạm, tương ứng với mức phạt được áp dụng cho các tội phạm có mức độ nghiêm trọng tương đương trong những trường hợp thích hợp, các biện pháp chế tài cũng bao gồm cả việc bắt giữ, tịch thu và tiêu huỷ hàng hoá vi phạm, bất cứ vật liệu và phương tiện nào khác được sử dụng chủ yếu để thực hiện tội phạm.
Các thành viên có thể quy định các thủ tục hình sự và hình phạt áp dụng cho các trường hợp khác vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là trường hợp cố tình vi phạm và vi phạm với quy mô thương mại”. “Quy mô thương mại” có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau và được diễn giải bởi các quốc gia để bao gồm các hành vi khác nhau. Nhìn chung xâm phạm với “quy mô thương mại” nên được hiểu là các hành vi được thực 18 hiện một các có chủ ý nhằm mục đích sinh lợi, không kể giá trị của vi phạm; hoặc những hành vi tuy không nhằm mục tiêu sinh lợi nhưng gây ảnh hưởng lớn đến quyền khai thác tài sản trí tuệ của chủ thể quyền.