Chương 1 TỎNG QUAN 1. African Swine Fever (ASE) Bệnh dịch tả heo Châu Phi (ASF) là một bệnh do vi-rút gây ra với khả năng gây chết 100% ở heo nhà và heo rừng. Mặc dù phạm vi ký chủ hạn chế và không có khả năng truyền lây từ động vật sang người, nhưng tác động của dịch bệnh đến kinh tế xã hội rất lớn. Cũng chính vì lý do này, Dịch tả heo Châu Phi đã được T6 chức Thú Y Thế giới (WOAH) cảnh báo toàn cầu.
Trong hau hết các trường hợp, bệnh ảnh hưởng đến heo nuôi, vật chủ hoang đã như là heo rừng hoặc heo hoang khác; vi-rút gây bệnh có khả năng tồn tại trên các yếu tố trung gian truyền bệnh (vi dụ: xác heo, môi trường xung quanh bị ô nhiễm, dụng cụ, các véc-tơ cơ học khác) và các véc-tơ động vật chân đốt (ve mềm). Điều đáng ngại là các biện pháp kiểm soát chủ yếu dựa vào các biện pháp an toàn sinh học nghiêm ngặt do hiện tại không có vắc-xin phòng bệnh hoặc bất kỳ phương pháp điều trị nào. Lịch sử Năm 1921, Montgomery - một chuyên gia thú y đã mô tả một căn bệnh gây ra xuất huyết cấp tính với tỷ lệ chết lên đến 100% tại bốn trang trại ở Kenya, Đông Phi (Eustace Montgomery, 1921). Sau khi được công bố xuất hiện, bệnh đã nhanh chóng được ghi nhận ở hau hết các nước Châu Phi.
Năm 1957, ASF xuất hiện tại Bồ Dao Nha, đánh dau việc dịch bệnh đã thoát khỏi Châu Phi và sau đó lan khắp châu Âu. Bệnh cũng đã ghi nhận ở khu vực Caribe, Nam Mỹ và một số nước châu Á. Tháng 8 năm 2018, dịch bệnh nỗ ra ở Trung Quốc và nhanh chóng lây lan sang nhiều nước châu A làm ảnh hưởng lớn tới tong đàn heo ở nhiều quốc gia và gây thiệt hại kinh tế nghiêm trong trong ngành chăn nuôi heo. Vào ngày 19/2/2019, tại Việt Nam bộ Nông nghiệp va Phát triển Nông thôn chính thức thông báo bệnh Dịch tả heo Châu Phi đã có những 6 dich đầu tiên ở 2 tỉnh phía Bắc Việt Nam.
Sau đó tất cả 63 tỉnh và thành phố đã báo cáo dịch bệnh và khoảng 6.000 con heo đã bị tiêu hủy (FAO, 2019). Hơn 50 quốc gia trên cả bốn châu lục (Châu A, Châu Âu, Châu Phi và Châu Mỹ) đã công bố xuất hiện ASF. Theo báo cáo của WOAH, hiện tại châu A là nơi đang chịu ảnh hưởng nhất (Hình 1. Bệnh đã từng được kiểm soát thành công ở nhiều vùng trên thế giới đặc biệt là trên heo nhà.
Do đó, bệnh dịch tả heo châu Phi ở Việt Nam mặc dù gây thiệt hai nặng nề nhưng vẫn có khả năng kiểm soát nêu thực hiện tôt các biện pháp an toàn sinh học và chân đoán sớm. Armenia HaiseDominican Republic _ : 27. Azerbaijan 2 LA ppines 28. Latvia Cote d'Ivoire Ye Papua New 30.
Lithuania y ` &~ Guinea 31, Nepal 12, Poland Democratic Repub ean 32. Romania oftheCongo 7, nig i 33. Mozambique 16, Burkina Faso Medagiscar 36. Ghana Soule ans 38, Croatia 19.
Republic of the Congo 20. Uganda No information/never reported/ASF absent Es: outbreaks recorded from 2005 to 2017S outbreak reported in2018 ẨM Firstoutbreak reported in 2019 [ir irstoureax reported in 2020 _ Fisstoutwreakreportea in 2021 [i Fisstouvreax reported in 2022 Hiricstoutbreak reported in 2023 Hình 1. Phân bố toàn cau ASF, 2005-2023. Nguồn: (Wang và c., 2024) Bản đồ này dựa trên dữ liệu từ Báo cáo tình hình dịch tả heo châu Phi của WOAH (https://www.org/en/disease/african-swine-fever/fui-id-2, truy cập ngày 10 thang I2 nam 2023) va Báo cáo Giám sát Dịch bệnh toàn cầu (https://www.org/global-disease-surveillance-reports, truy cập vào ngày 10 tháng 12 năm 2023).
Tên của các quốc gia có ASF được đưa ra trên bản đồ. Các quốc gia tiếp tục bùng phát ASF được gắn nhãn năm mà đợt bùng phat đầu tiên được báo cáo kể từ năm 2005. Đặc điểm cấu trúc của vi-rút ASF Bệnh Dich tả heo châu Phi do vi-rút thuộc họ Asfarviridae, giỗng Asfivirus, nhân lên trong tế bao chat của tế bào bị nhiễm. ASFV là vi-rút có cau trúc phức tạp, kích thước lớn, có vỏ bọc ngoài (envelop).
Dưới kinh hiển vi điện tử, đường kính trung bình của hạt vi-rút khoảng 200 nm chứa lõi nucleoprotein có đường kính khoảng 80 nm. Bộ gen chứa nucleoid dày đặc electron được bao bọc trong mang lipid và được bao phủ bởi một capsid hình khối hai mươi mặt, được tạo thành từ 1892-2172 capsome (Elsukova và cs, 2017). Bộ gen vi-rút chứa vùng trung tâm bảo tồn khoảng 125kbp và hai đầu biến đổi, dẫn đến kích thước bộ gen thay đôi (Chapman và cs, 2008; de Villiers va cs, 2010; Dixon va cs, 2013). Những vùng có thé biến đổi mã hóa cho multigene family (MGFs) góp phần tạo nên tính đa dạng của bộ gen vi-rút.
Năm MGFs (MGF100, MGF110, MGF300, MGF360, MGF505) được đặt tên dựa trên độ dài axit amin trung bình của chúng và có thể có nguồn gốc từ sự sao chép và đa dạng hóa gen. Số lượng bộ gen vi-rút được phát hiện đã tăng lên nhanh chóng khi công nghệ giải trình tự DNA phát trién. Sự đa dạng di truyền của ASFV được cho là can trở sự phát triển của vắc-xin hoặc thuốc hiệu quả chống lại vi-rút đã được trình bày trong nhiều nghiên cứu (Arabyan và cs, 2018; Escribano và cs, 2013; Sánchez-Cordón va cs, 2019). Bộ gen ASFV chứa các gen mã hóa, các protein liên quan đến quá trình sao chép của vi-rút, các protein cấu trúc, các protein khác liên quan đến quá trình lắp ráp vi-rút, sự lẫn tránh của hệ thống miễn dịch và chức năng tế bào vật chủ (Alejo và cs, 2018; Dixon và cs, 2013; Kefler va cs, 2018).
Outer envelope „ Capsid (VP72) Inner envelope » Matrix Nucleoid Genomic DNA Hình 1. Mô hình hat virion vi-rat DTHCP (Nguồn: Salas & Andrés, 2013). 0 50 100 150 200 kb REGIÓN CENTRAL CONSERVADA REGION VARIABLE IZDA 99% consv. = 125,2-126,3 KB REGION VARIABLE DCHA 38-47 Kb 13-16 Kb Hình 1.
Doan gen của vi-rút Dich ta heo Chau Phi (Cục Thú y, 2019) Một số kết quả nghiên cứu cho thấy hơn 50 protein cấu trúc được đóng gói thành virion và hoạt động trong nhiễm vi-rút như pp220, pp62, p72, p54, p30, CD2v, p10, p12, p14. Pp220 va pp62 là tiền chat polyprotein vi-rút ASF sau khi trai qua quá trình phân cắt tạo thành các sản pham thiết yếu (protein virion) của hat vi-rút. P54 va p30 là các protein cấu trúc kháng nguyên rất quan trọng. P72 là thành phần chính của khối hai mươi mặt vi-rút, và rất quan trọng trong việc hình thành capsid vi-rút trong biểu hiện nhiễm vi-rút muộn.
CD2v là một glycoprotein, có thé có một vai trò trong cơ chế gây bệnh của nhiễm vi-rút ASF và trốn tránh miễn dich ở vật chủ.5 và p17 có liên quan đến sự hap phụ vi-rút ASF và vận chuyền virion (Jia va cs, 2017). Cấu trúc proteins liên quan đến khả năng xâm nhiễm và nhân lên vi-rút ASE. Kích thước Tên protein được Tên gen Chức năng của protein protein dự đoán (kDa) P11.1 Sự bám dính cua vi-rút P10 A78R 8.4 Sự bám dính của vI-rút Protein capsid quan trọng, liên quan P72 B646L 73.2 , PP PHẾ '= dén sự xâm nhập của vi-rut Tiền chất polyprotein của p150, p37, Pp220 CP2475L 281.5 pl4 va p34; được dùng cho đóng gói 161 nucleoprotein Phosphoryl hóa va protein kháng P32 (p30) CP204L 23.6 nguyên, liên quan đến sự xâm nhập của vi-rut Pp62 (p60) CP530R 60.5 Tiền chat polyprotein của p35 va p15 P12 OG6IR 6.7 Su bam dinh protein Cần thiết cho quá trình day mạnh của P17 DII7L 13.1 tiền chất màng đến khối hai mươi mặt của hạt vI-rút Gan vào chuỗi LC8 của dynein, liên ; quan đến sự xâm nhập của vi-rút, cần P54 G13L) EI83L 19.9 " 4 , thiệt cho sự tập trung các tiên chat vỏ đến nhà máy Protein liên kết DNA, cần thiết cho sự P14.6 di chuyên của các virion tới mang sinh chất Tương tự như protein CD2 của vật chủ, cần thiết dé gắn kết các tế bào CD2v 3 : : „ EP402R 45.3 hong câu với các tê bào bi nhiễm va (PEP402R) các hạt vi-rit ngoại bao; glycoprotein được chèn vào vỏ vi-rút bên ngoài Nguồn: (Jia và cs, 2017) Protein p30 với trọng lượng phân tử tương đối là 30kDa được mã hóa bởi gen CP204L nằm ở màng trong của vỏ vi-rút. Trong số các protein cấu trúc tạo nên virion của vi-rút ASF, p30 là một trong những protein gây đáp ứng miễn dich cao nhất và được tạo ra sớm trước khi bắt đầu tong hop DNA của vi-rút và không bị biến đổi trong suốt vòng đời.
Hai đặc điểm này làm cho p30 trở thành mục tiêu lý tưởng cho xét nghiệm chân đoán sớm dé phát hiện nhiễm vi-rút ASF (Afonso va cs, 1992; Prados và es, 1993). Sức đề kháng của vi-rút ASE ASFV tôn tại rất lâu ở những điều kiện khác nhau. Vi-rút bị bat hoạt ở 60°C trong 30 phút. Hiệu giá vi-rút bị giảm khi bị tác động bởi các chất sát trùng như formaldehyde 1%, NaOH 2% và paraphenolic.
Vi-rút có thê được phân lập từ huyết thanh và máu khi được giữ ở nhiệt độ phòng trong vòng 18 tháng. Vi-rút tồn tai trong khoảng pH rộng 4- 13 (EFSA, 2010), thời gian dài, có thé nhiều năm ở điều kiện đông lạnh hoặc bảo quản ở 40°C (Dixon và cs, 2005). Trong các sản phẩm từ thịt, vi-rút có thể tồn tại vài tuần đến vài tháng trong thịt đông lạnh hoặc thịt chưa nấu chín. Khi thịt được nấu ở 70°C trong 30 phút thì vi-rút bi bat hoạt (Beltran-Alcrudo và cs, 2017).
Thời gian tồn tại của ASFV trong điều kiện môi trường khác nhau Đối tượng Thời gian sống sót của ASFV Thịt — thịt xay 105 ngày Thịt muối 182 ngày Thịt chế biến (tôi thiêu 30 phút ở 700 °C) 0 ngày Thịt sấy khô 300 ngày Thịt xông khói 30 ngày Thịt đông lạnh 1000 ngày Thịt ướp lạnh 110 ngày Thịt thừa 105 ngày Da/mỡ 300 ngày Máu (giữ ở 4°C) 18 tháng Phân (giữ ở nhiệt độ phòng) 11 ngày Máu phân hủy 15 tuần Chuông/trại nhiễm bệnh 1 tháng Nguồn: (Beltran-Alcrudo và cs, 2017). Cơ chế gây bệnh Quá trình lây nhiễm ASFV bắt đầu với sự hấp phụ của vi-rút lên thụ thể và xâm nhập vào tế bào chủ. Các nghiên cứu ban đầu về sự xâm nhập của ASFV đã mô tả sự kiện này là một quá trình diễn ra trong điều kiện nhiệt độ và pH thấp, phù hợp với môi trường nội bào trong thé trung gian nhập bào (endosome) ở tế bao Vero và đại thực bào heo (Alcami và cs, 1989a, 1989b, 1990; Valdeira & Geraldes, 1985).