Mở đầu, Kết luận - khuyến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục và 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động thực hành nghề tại trƣờng Cao đẳng. Thực trạng quản lý hoạt động thực hành nghề tại trƣờng Cao đẳng KT&CN tỉnh Hà Giang. Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học thực hành nghề tại trƣờng Cao đẳng KT&CN tỉnh Hà Giang.
5 download by : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH NGHỀ Ở TRƢỜNG CAO ĐẲNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Vấn đề đào tạo nghề ở các quốc gia trên thế giới có nhiều điểm khác nhau, do điều kiện, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ và nền văn minh của mỗi quốc gia mà việc hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp cũng khác nhau, nhƣng hầu hết các nƣớc đều bố trí hệ thống giáo dục nghề nghiệp đồng thời với hệ trung học và phổ thông. Có thể tìm hiểu qua một số nƣớc sau: Ở Hoa Kỳ Đào tạo nghề cho ngƣời học đƣợc tiến hành trong các trƣờng trung học phổ thông, các trƣờng dạy nghề trung học, các cơ sở đào tạo nghề sau bậc trung học.
Học sinh tốt nghiệp trung học có thể học một nghề chuyên môn tại một trƣờng nghề, thời gian học thƣờng từ 6 tháng đến 2 năm và đƣợc cấp chứng chỉ sau tốt nghiệp [38]. Ở Cộng hòa liên bang Đức Hệ thống giáo dục nghề đƣợc đào tạo từ bậc phổ thông (từ lớp 5-lớp 13) theo từng cấp độ mà ngƣời học mong muốn. Sau khi học xong phổ thông và phải có chứng chỉ nghề học sinh có thể đƣợc học lên tại các trƣờng nghề (từ 2 -3 năm) và đại học [40]. Ở Liên Xô trƣớc đây Việc dạy nghề cho lao động đƣợc Liên xô đào tạo tại các xí nghiệp.
Tháng 7 năm 1920 Lênin ký và ban hành sắc lệnh về “Chế độ học tập kỹ thuật - nghề nghiệp” [34], sắc lệnh này bắt buộc đối với ngƣời lao động từ 18 tuổi đến 40 tuổi. Cơ sở đào tạo và dạy nghề rất đa dạng, có thể tổ chức tại trƣờng dạy nghề hoặc dạy nghề cạnh xí nghiệp. Thời gian đào tạo nghề khác nhau đối với từng bậc công nhân: 2 năm đối với đào tạo công nhân bậc 3 và bậc 4; 2 năm 6 tháng đến 3 năm đối với đào tạo công nhân bậc 5 và bậc 6; 3 năm đến 4 năm đối với đào tạo công nhân lành nghề bậc cao. Trong đó đào tạo nghề đƣợc thực hiện qua 2 giai đoạn: Giai đoạn đầu: Đào tạo lý thuyết và thực hành cơ bản tại các cơ sở đào tạo của xí nghiệp 6 download by : skknchat@gmail.com Giai đoạn sau: Đào tạo thực hành chuyên sâu tại vị trí làm việc với sự hƣớng dẫn của thợ cả hoặc hƣớng dẫn viên thực hành.
Ngoài ra vấn đề Thực hành nghề và quản lý hoạt động thực hành nghề trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cũng nhận đƣợc sự quan tâm của giới nghiên cứu: Trong cuốn "Cơ sở giáo dục học nghề nghiệp" (1982), tác giả X.Sapôrinxki đề cập đến các phƣơng thức và phƣơng pháp dạy học thực hành nghề; phân tích các giai đoạn tổ chức dạy học thực hành nghề dựa trên cơ sở quá trình hình thành kỹ năng, kỹ xảo trong quá trình lao động và quan hệ giữa dạy học thực hành sản xuất với quá trình lao động nghề nghiệp [dẫn theo 36]. Năm 1996, tác giả Heinz Weihrich và đồng nghiệp đã công bố kết quả nghiên cứu về một dự án khoa học Quản lý giáo dục đào tạo nghề - mô hình của Mỹ và một số quốc gia khác. Nghiên cứu đã giới thiệu các phƣơng pháp đào tạo nghề truyền thống của Đức và mô hình quản lý đào tạo nghề cần phải đƣợc bổ sung hƣớng tới một mức độ cao hơn, đào tạo theo hình thức tích hợp giữa lý thuyết và thực hành, lấy năng lực ngƣời học làm trung tâm và cốt lõi của hoạt động quản lý đào tạo. Tác giả cho rằng đổi mới mô hình đào tạo nghề là một nhu cầu quan trọng và một cách tiếp cận quản lý đào tạo mới là mô hình đào tạo kiểu liên doanh, không chỉ ở Mỹ mà còn ở các nƣớc khác [dẫn theo 36].
Đào tạo nghề phải gắn chất lƣợng học sinh sau khi tốt nghiệp với hệ thống chuẩn kỹ năng nghề đƣợc quy định cụ thể trong các bộ chuẩn đào tạo nói chung và chuẩn đầu ra ngành đào tạo của mỗi nghề nói riêng. Để có đƣợc các bộ chuẩn đầu ra cho đào tạo, các cơ sở đào tạo phải xác định hệ thống các kiến thức, kỹ năng của ngƣời hành nghề trên cơ sở phân tích nghề để xác định đƣợc chuẩn đầu ra và coi chuẩn đó là yêu cầu bắt buộc đối với ngƣời học khi bắt đầu ra trƣờng [31]. Ở Việt Nam Dạy nghề Việt Nam có lịch sử phát triển lâu đời, gắn liền với sự xuất hiện, tồn tại của nền văn minh lúa nƣớc và các làng nghề truyền thống. Cuối thế kỷ 19 đã hình thành tổ chức đào tạo chính quy tại một số trƣờng dạy nghề nhƣ trƣờng kỹ nghệ thực hành tại Hà Nội (1898), trƣờng kỹ nghệ thực hành Huế (1889)… và lớp dạy nghề tại xí nghiệp, trƣờng nghề.
7 download by : skknchat@gmail.com Từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 và trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, mặc dù chƣa có điều kiện phát triển, nhƣng dạy nghề đã kịp thời đào tạo đội ngũ công nhân, cán bộ quốc phòng, y tế, nông nghiệp, sƣ phạm… Từ đó đến nay, Chính phủ đã có nhiều Nghị quyết, Quyết định quan trọng để phát triển giáo dục nghề nghiệp trƣớc ngƣỡng cửa thế kỷ 21, ngày 27/11/2014, Quốc hội khóa XIII thông qua Luật giáo dục nghề nghiệp theo đó, hệ thống các trƣờng cao đẳng, cao đẳng nghề thành cao đẳng; trung cấp, trung cấp nghề thành trung cấp để hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp gồm 3 trình độ đào tạo là Cao đẳng, Trung cấp và Sơ cấp. Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp đƣợc hình thành giúp Bộ trƣởng Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội quản lý hoạt động giáo dục nghề nghiệp trong toàn quốc. Chƣơng trình mục tiêu, các chƣơng trình, dự án hợp tác với nƣớc ngoài đã góp phần đáp ứng đƣợc các điều kiện bảo đảm chất lƣợng; dạy nghề đã từng bƣớc phát triển theo hƣớng hiện đại hóa, chuẩn hóa và xã hội hóa, từng bƣớc đáp ứng nhu cầu của thị trƣờng lao động trong nƣớc và xuất khẩu lao động. Phong trào thi đua dạy tốt, học tốt trong toàn ngành đã đƣợc đẩy mạnh; các hoạt động nhƣ Kỳ thi tay nghề các cấp (Quốc gia, ASEAN và thế giới), hội giảng GV dạy nghề, hội thi thiết bị dạy nghề tự làm… đã trở thành hoạt động thƣờng xuyên từ cơ sở dạy nghề đến toàn quốc và mang lại hiệu quả thiết thực.
Đến nay, dạy nghề đáp ứng đƣợc nhu cầu của thị trƣờng lao động cả về số lƣợng, chất lƣợng, cơ cấu nghề và trình độ đào tạo; chất lƣợng đào tạo của một số nghề đạt trình độ các nƣớc phát triển trong khu vực ASEAN và trên thế giới; hình thành đội ngũ lao động lành nghề, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; phổ cập nghề cho ngƣời lao động [39]. Các nghiên cứu về dạy học thực hành nghề Trong nghiên cứu “Giáo dục nghề nghiệp những vấn đề và biện pháp” Tác giả Nguyễn Viết Sự đã nêu những vấn đề và biện pháp cho giáo dục nghề nghiệp. Trong nghiên cứu này, tác giả đã chỉ ra những vấn đề tồn tại phổ biến trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam, nhƣ nội dung chƣơng trình, phƣơng pháp giảng dạy, đội ngũ GV, giảng viên, chất lƣợng đào tạo, khả năng thích ứng với môi trƣờng làm việc, tác phong nghề nghiệp. Từ đó, đƣa ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lƣợng của hệ thống giáo dục nghề nghiệp [31].
8 download by : skknchat@gmail.com Các tác giả Đỗ Minh Cƣơng và Mạc Văn Tiến đã có nghiên cứu về “Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn”. Trong nghiên cứu này, các tác giả đã đề cập đến nhu cầu đào tạo lao động kỹ thuật của Việt Nam nhằm đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất về đổi mới chƣơng trình giảng dạy, tăng cƣờng đầu tƣ công nghệ phù hợp với thiết bị, công nghệ của sản xuất. Nâng cao chất lƣợng và chuẩn hóa đội ngũ GV, giảng viên, đổi mới phƣơng pháp kiểm tra đánh giá, đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật của nền kinh tế cả về số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu để đảm bảo hiệu quả đầu tƣ cho giáo dục nghề nghiệp [10].
Nghiên cứu của luận án tiến sĩ “Dạy học thực hành nghề kỹ thuật theo tiếp cận tương tác trong đào tạo giảng viên công nghệ” tác giả Nguyễn Cẩm Thanh đã chỉ ra rằng trong hoạt động dạy học thực hành nghề, thiết bị và nhiệm vụ thực hành nghề, phƣơng pháp và hình thức thực hành luôn ở trạng thái động, cần đƣợc tổ chức một cách phù hợp nhằm hỗ trợ tối ƣu cho hoạt động thực hành nghề của học viên. Từ đó, đƣa ra các biện pháp triển khai hoạt động dạy học thực hành nghề kỹ thuật nhƣ xác định mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp dạy học, thiết kế nội dung, môi trƣờng thực hành nghề, đánh giá kết quả học tập… [32]. Các nghiên cứu về quản lý dạy học thực hành nghề Trong chuyên đề “Quản lý chất lƣợng giáo dục” (cuốn “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về lãnh đạo và quản lý giáo dục trong thời kỳ đổi mới”), tác giả Đặng Xuân Hải đã trình bày quy trình quản lý chất lƣợng ở một cơ sở giáo dục và đào tạo. Quy trình bao gồm các bƣớc: Xác lập chuẩn mực và chỉ số đối với các yếu tố liên quan đến chất lƣợng giáo dục và đào tạo của cơ sở giáo dục và đào tạo (chƣơng trình giáo dục và đào tạo đƣợc triển khai theo đúng yêu cầu của “chuẩn đầu ra”, tổ chức hoạt động dạy học phù hợp với đối tƣợng và gắn với việc đạt đƣợc “mục tiêu đào tạo - chuẩn đầu ra” của mỗi môn học, của từng mô đun nhằm góp phần đạt đƣợc chuẩn kiến thức, kỹ năng ngƣời học theo hƣớng đạt “chuẩn đầu ra”; Tổ chức triển khai các chuẩn mực vào các hoạt động đào tạo; Kiểm tra, giám sát việc thực hiện và đánh giá chất lƣợng đã đạt đƣợc; Xây dựng văn hóa chất lƣợng [17].