Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CƠ SỞ TẠI CÁC TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ CẤP HUYỆN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Đề cập đến BD và quản lý BD cán bộ cơ sở tại các cơ sở BD đã được nhiều cơ quan, các nhà nghiên cứu trong nước và ngoài nước tiếp cận với những nội dung, phạm vi và mức độ khác nhau, tùy theo mục đích nghiên cứu của từng tác giả, từng công trình khoa học. Có thể tổng hợp thành các nhóm nghiên cứu chính sau đây liên quan đến đối tượng nghiên cứu đề tài này. - Nhóm thứ nhất: Các nghiên cứu chung về QL có liên hệ với QL giáo dục nói chung và quản lý BD tại các cơ sở đào tạo, BD nói riêng.
Có thể kể đến các công trình tiêu biểu như: “Lý luận đại cương về quản lý” của Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1996); “Quản lý giáo dục” của Bùi Minh Hiền (chủ biên) – Vũ Ngọc Hải – Đặng Quốc Bảo. - Nhóm thứ hai: Các công trình đề cập trực tiếp đến BD cán bộ cơ sở - một đối tượng BD đặc thù. Vấn đề này đã có rất nhiều công trình nghiên cứu dưới các chiều cạnh, lát cắt khác nhau. Có thể kể đến các công trình như: "Hồ Chí Minh với công tác giáo dục, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ" của Lê Hanh Thông (2000); "Công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở các trường chính trị" của Trần Ngọc Uẩn (2001); “Đổi mới quản lý đào tạo ở TTBDCT cấp huyện” của Đặng Công Minh (2004); "Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác giáo dục LLCT" của Nguyễn Văn Sáu (2006); “Biện pháp QL thực hiện chương trình giáo dục LLCT tại các TTBDCT cấp huyện tỉnh Thái Nguyên” của Đỗ Thị Thìn (2008); “Công tác đào tạo, BD cán bộ lãnh đạo, QL theo các chức danh tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh” của Trần Minh Tuấn (2011); “Tạo bước chuyển biến mới trong việc học tập LLCT của cán bộ, đảng viên” của Nguyễn Phú Trọng, Tạp chí Cộng sản, tháng 11/ 1999.
Các tài liệu trên dù mang tính khái quát hay chỉ đề cập tới một khía cạnh nào đó trong QLGD đều là những công trình khoa học có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn của công tác đào tạo, BD cán bộ nói chung, công tác bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ cán bộ cơ sở nói riêng tại các TTBDCT cấp huyện và có giá trị tham khảo tốt để tác giả thực hiện đề tài Luận văn theo quan điểm kế thừa và phát triển. Tuy nhiên, qua các tài liệu, các công trình nghiên cứu của các tác giả, đến nay vẫn chưa thấy có Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN6 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com công trình khoa học nào trực tiếp nghiên cứu, khảo sát, tổng kết một cách có hệ thống, toàn diện thực trạng và đề xuất các biện pháp QL hoạt động bồi dưỡng cán bộ cơ sở tại các TTBDCT cấp huyện. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Trong các giáo trình, tài liệu nghiên cứu về QL, khái niệm QL có nhiều cách tiếp cận khác nhau, trong phạm vi của đề tài, tác giả xin đề cập tới một số cách tiếp cận có liên quan: Theo Harold Koontz: Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức).
Mục tiêu của QL là hình thành một môi trường trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì QL là một nghệ thuật, còn kiến thức về QL là một khoa học [10]. Theo Từ điển tiếng Việt quản lý là: "Tổ chức điều khiển hoạt động của đơn vị, cơ quan" [26]. Tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ cho rằng: "Quản lý là một quá trình có định hướng, quá trình có mục tiêu, QL là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người QL mong muốn" [12]. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang quan niệm: "Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể QL đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến" [21]. Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: "Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể QL về các mặt văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội bằng hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng" [9]. Theo tác giả Trần Kiểm: "Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích xác định" [14].
Theo Bùi Minh Hiền (chủ biên) – Vũ Ngọc Hải – Đặng Quốc Bảo: Xét QL với tư cách là một hành động thì: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể QL tới đối tượng QL nhằm đạt mục tiêu đề ra” [11, tr12]. Tuy cách tiếp cận các khái niệm về QL được đề cập ở nhiều góc độ khác nhau, nhưng đều chứa đựng những nội dung cơ bản của QL là: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN7 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com - Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý. - Trong xã hội, QL là thuộc tính bất biến, nội tại của mọi quá trình hoạt động xã hội, được thực hiện với một tổ chức hay một nhóm xã hội. - Quản lý là những tác động có tính hướng đích, là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân thực hiện mục tiêu của tổ chức.
- Yếu tố con người, trong đó chủ thể là những người QL và người bị QL giữ vai trò trung tâm trong chu trình hoạt động QL. Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể QL (người quản lý) theo kế hoạch chủ động và phù hợp với quy luật khách quan tới khách thể QL (người bị quản lý) nhằm tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự tồn tại, ổn định và phát triển của tổ chức. Theo cách hiểu trên, QL luôn tồn tại với tư cách như là một hệ thống bao gồm những thành tố cấu trúc cơ bản sau: Chủ thể quản lý; Đối tượng quản lý; Cơ chế quản lý; Mục tiêu quản lý. Quản lý luôn tồn tại với tư cách là hệ thống: Hệ thống QL được tạo bởi nhiều thành tố xác định, chủ yếu bao gồm: Mục tiêu, tổ chức bộ máy, các nguồn lực, cơ chế QL, quy trình vận hành QL… - Quản lý có bốn chức năng cơ bản: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra/đánh giá.
Các chức năng QL có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, đan xen và ảnh hưởng lẫn nhau. Khi thực hiện chức năng này thường liên quan đến các chức năng khác và ở mức độ khác nhau. Các chức năng đều cần đến yếu tố thông tin để hoạch định kế hoạch; cơ cấu tổ chức; chuyển tải mệnh lệnh chỉ đạo và phản hồi, thông tin kết quả hoạt động. Như vậy có thể hiểu một cách khái quát: Quản lý là một tập hợp các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các quá trình tự nhiên, xã hội, khoa học, kỹ thuật và công nghệ để chúng phát triển hợp quy luật, các nguồn lực (hiện hữu và tiềm năng) vật chất và tinh thần, hệ thống tổ chức và các thành viên thuộc hệ thống, các hoạt động để đạt được các mục đích đã định [13, tr10].
Bồi dưỡng Bồi dưỡng theo Đại từ điển Tiếng Việt là: “Làm cho tốt hơn, giỏi hơn” [22, tr8]. Theo Từ điển Tiếng Việt “Bồi dưỡng” được hiểu là:“Làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất” [27]. Hay “BD làm cho tăng thêm sức của cơ thể bằng chất bổ. Làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất.
BD cán bộ trẻ, BD đạo đức” [28]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN8 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com Quan niệm trên cho thấy: - Chủ thể BD là người lao động đã được đào tạo và đã có một trình độ chuyên môn nhất định. - BD giúp chủ thể BD có cơ hội củng cố, mở mang hoặc nâng cao hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn nghiệp vụ có sẵn nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả công việc đang làm. Như vậy, BD là quá trình bổ sung, cập nhật, củng cố kiến thức hoặc tăng thêm kiến thức mới cho người học.
BD là quá trình tác động đến tâm lý, nhân cách của người học, làm cho họ nâng cao trình độ, năng lực công tác, phẩm chất đạo đức. BD là công việc được tiến hành sau đào tạo, là việc bổ sung thêm kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cho người làm việc trong quá trình làm việc trên nền tảng của tri thức đã được đào tạo. Kết quả của khóa BD là người học nhận giấy chứng nhận sau khi nộp bản báo cáo thu hoạch hoặc bài thi, kiểm tra. Thời gian của các khóa BD từ một tuần đến ba tháng.
Quản lý hoạt động bồi dưỡng Hoạt động bồi dưỡng là những hoạt động truyền thụ kiến thức, huấn luyện kỹ năng nhằm giúp người học làm giàu vốn hiểu biết, nâng cao hiệu quả hoạt động. Hoạt động BD gắn liền với một cơ sở đào tạo, BD trong hệ thống các cơ sở đào tạo, BD. Khâu cốt lõi của hoạt động BD là hoạt động dạy – học các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo về nghề nghiệp. Hoạt động BD bao quát nhiều nội dung, trong đó có một số nội dung then chốt như: mục tiêu, kế hoạch BD; nội dung BD; hoạt động dạy và học; nhân lực; đối tượng BD; cơ sở vật chất – kỹ thuật.
Mỗi nội dung này lại có những tính chất, đặc điểm riêng biệt và có những tác động khác nhau đến kết quả của quá trình BD, đồng thời, giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau.