MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Một trong những động lực của quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại các nước đang phát triển chính là vốn đầu tư nước ngoài. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, nguồn vốn này ngày càng trở nên quan trọng hơn. Bên cạnh dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), thì dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) cũng là một nguồn bổ sung vốn cần thiết cho công cuộc phát triển kinh tế đất nước.
Tuy nhiên, do chưa được quan tâm đúng mức nên dù có một tiềm năng to lớn nhưng nguồn vốn FPI chảy vào Việt Nam còn khá khiêm tốn. Năm 2006, sự kiện Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO là một khởi đầu quan trọng của quá trình thực hiện chính sách chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Với những điều kiện thuận lợi cả về mặt kinh tế vĩ mô và cơ chế chính sách, Việt Nam đã trở thành một thị trường khá hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Tận dụng thuận lợi đó, Việt Nam cần phải khai thác một cách triệt để nhằm thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có dòng vốn FPI nhằm đẩy mạnh công cuộc phát triển kinh tế đất nước.
Kể từ khi gia nhập WTO, dòng vốn FPI vào Việt Nam đã tăng mạnh đột biến chỉ trong một thời gian ngắn, đặc biệt vào năm 2006 và 2007. Mặc dù dòng vốn này cũng đã đảo chiều trong cả năm 2008 và quý I năm 2009, nhưng nhìn chung nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) vẫn quan tâm đến dòng vốn này, đặc biệt là khi kinh tế thế giới và trong nước đang có những dấu hiệu hồi phục. Mối quan tâm của NĐTNN ngày càng tăng và các giao dịch chính thức của người nước ngoài qua TTCK ngày càng nhiều. Tuy nhiên, so với các nước đang phát triển trong khu vực và trên thế giới, hiện nay dòng vốn FPI chảy vào Việt Nam còn rất hạn chế, thêm vào đó 1 bước đầu thực hiện hội nhập tài chính đã khiến cho những nhà quản lý có những lúng túng nhất định khi đối diện với sự dịch chuyển của các dòng vốn, đặc biệt là dòng vốn FPI.
Chính vì vậy, vấn đề thu hút dòng vốn FPI một cách an toàn trong giai đoạn hiện nay là một trong những vấn đề được Nhà nước quan tâm sâu sắc. Xuất phát từ tầm quan trọng này, việc chọn đề tài “ Thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế” là một điều cần thiết và có ý nghĩa. Tình hình nghiên cứu Vốn đầu tư nước ngoài là một vấn đề được các nhà nghiên cứu kinh tế quan tâm khá nhiều trong những năm qua. Với hình thức đầu tư nước ngoài gián tiếp, mặc dù có lịch sử hình thành sớm hơn hình thức FDI, nhưng hình thức đầu tư này chỉ thực sự phát triển từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX và tập trung vào các thị trường mới nổi.
Ở Việt Nam, dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài còn khá mới mẻ. Chính vì vậy, những nghiên cứu về vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài còn chưa nhiều. Mới chỉ có một số sách, một vài bài viết về vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài như sau: 1, Giáo trình Đầu tư quốc tế, Nhà xuất bản ĐHQGHN, 2001 của PGS, TS. Phùng Xuân Nhạ.
Giáo trình đã giới thiệu một cách khái quát về đầu tư quốc tế cũng như những vấn đề chung nhất về đầu tư quốc tế trong nền kinh tế hiện nay. Tuy nhiên, đây là một nghiên cứu tổng quát về đầu tư quốc tế và chưa đi sâu vào nghiên cứu về hình thức đầu tư nước ngoài gián tiếp vào Việt Nam. 2, Giáo trình Đầu tư quốc tế, Nhà xuất bản Thống kê, 1999 của TS. Tô Xuân Dân.
Giáo trình cũng đã giới thiệu một cách khái quát về đầu tư quốc tế, cũng đã đề cập đến đầu tư gián tiếp nước ngoài, tuy nhiên hình 2 thức đầu tư này còn khá mới mẻ và sơ sài. 3, Sách tham khảo Điều tiết sự di chuyển của dòng vốn tư nhân gián tiếp nước ngoài ở một số nước đang phát triển, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà nội – 2005 của TS. Nguyễn Hồng Sơn (Chủ biên), Cuốn sách đã trình bày những nội dung cơ bản về dòng vốn đầu tư tư nhân gián tiếp nước ngoài. Một số bài học kinh nghiệm về quản lý, điều tiết dòng vốn này ở các nước đang phát triển.
Tuy nhiên, các nội dung này mới chỉ phân tích những sự thành công hay thất bại của các nền kinh tế thế giới trong công cuộc thu hút và điều tiết nguồn vốn đầu tư tư nhân gián tiếp nước ngoài mà chưa chỉ ra được thực trạng thu hút dòng vốn này ở Việt Nam. 4, Luận văn Thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán Việt Nam – Nguyễn Duy Sơn, 2007 – ĐH Kinh tế TP Hồ Chí Minh. Luận văn đã đánh giá tình hình đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam thông qua TTCK, đồng thời xem xét những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút FPI vào Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp thu hút vốn FPI vàoViệt Nam qua thị trường chứng khoán trong thời gian tới. Tuy nhiên luận văn mới nghiên cứu tình hình dòng vốn này đến năm 2006, từ sau năm 2006, khi Việt Nam gia nhập WTO thực trạng dòng vốn này chảy vào Việt Nam đã có nhiều thay đổi.
5, Luận văn Thu hút và quản lý rủi ro vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài – Vũ Việt Hùng, 2006 – ĐH Kinh tế TP Hồ Chí Minh. Luận văn đã nêu lên một cách khái quát thực trạng đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn từ 1999 - 2005. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn 3. Mục đích nghiên cứu 3 Đánh giá thực trạng hoạt động quản lý các dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, kinh nghiệm điều tiết dòng vốn này của một số quốc gia trên thế giới để đề xuất các giải pháp nhằm thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài một cách an toàn cho sự phát triển của nền kinh tế.
Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn này tập trung nghiên cứu nhằm giải quyết một số nội dung sau: - Nghiên cứu tổng quan những lý luận cơ bản về vốn FPI và hoạt động của dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài. Kinh nghiệm của các nước trên thế giới trong việc thu hút vốn FPI. - Nghiên cứu thực trạng dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Đánh giá những thành tựu đã đạt được và hạn chế còn tồn tại trong công tác thu hút dòng vốn này của Việt Nam trong thời gian qua.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút luồng vốn FPI trong thời gian tới nhằm phục vụ công cuộc phát triển kinh tế đất nước. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4. Đối tượng nghiên cứu của luận văn Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thực trạng thu hút và điều tiết dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 1991 đến nay, đặc biệt là giai đoạn từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO năm 2006 đến nay.
Phƣơng pháp nghiên cứu 4 Đề tài sử dụng các phương pháp thống kê, kế thừa có chọn lọc đồng thời vận dụng cơ sở lý luận để tìm hiều, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý FPI cũng như những giải pháp thiết thực nhằm kiểm soát dòng vốn này ở Việt Nam. - Phương pháp duy vật biện chứng để phân tích thực trạng thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài của Việt Nam từ năm 1991 đến nay. - Phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp thống kê, phân tích - tổng hợp được sử dụng nhằm phân tích, đánh giá các số liệu để minh chứng cho các vấn đề nghiên cứu. - Phương pháp định tính và định lượng để nghiên cứu thị trường, từ đó đưa ra những phân tích, đánh giá làm rõ hơn tiềm năng thu hút dòng vốn này vào Việt Nam trong thời gian tới.
Đóng góp mới của luận văn Việc triển khai thực hiện Luận văn này nhằm phân tích đưa ra các nhận định về thực trạng thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm duy trì và tận dụng hiệu quả dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, đồng thời đảm bảo được sự chủ động trong việc vận hành chính sách, hạn chế các rủi ro phát sinh khi hấp thụ các dòng vốn này để đảm bảo duy trì không chỉ sự phát triển bền vững của TTCK Việt Nam mà còn là sự an toàn của cả nền kinh tế. 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN THU HÚT DÒNG VỐN ĐẦU TƢ GIÁN TIẾP NƢỚC NGOÀI 1. Khái quát về vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài – FPI 1. Khái niệm Đầu tư quốc tế là phương thức đầu tư vốn, tài sản ở nước ngoài để tiến hành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ… vì mục đích kiếm lợi nhuận hay vì những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định nào đó.
Nói cách khác, đầu tư quốc tế là hình thức xuất khẩu tư bản – một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hóa. Hình thức này thường có xu hướng dòng vốn chảy từ nước phát triển sang nước kém phát triển hơn. Lý thuyết và thực tiễn hoạt động đầu tư đã phân đầu tư quốc tế ra hai loại hình đầu tư chủ yếu: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Đầu tư trực tiếp (FDI) là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) bỏ vốn đầu tư và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư với lợi ích lâu dài.
Các giao dịch của FDI chủ yếu liên quan đến giao dịch trên tài khoản thực, nó bao gồm cả các hình thức góp vốn như mua cổ phiếu hay tái đầu tư thu nhập do các công ty nước ngoài thực hiện. Đầu tư gián tiếp (FPI) được hiểu là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác… thông qua quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp quản lý hoạt động đầu tư.