Chương 1 : Cơ sở lý luận về việc nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng sản phẩm. Chương 2 : Phân tích thực trạng công tác quản lý chất lượng sản phẩm bao bì ở Công ty cổ phần bao bì PP Hải Phòng. Chương 3 : Kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng sản phẩm ở Công ty Cổ phần bao bì PP Hải Phòng 3 z Chƣơng 1 : Cơ sở lý luận về việc nâng cao hiệu quả quản lý chất lƣợng sản phẩm. Các khái niệm về chất lƣợng, quản lý chất lƣợng và vai trò của quản lý chất lƣợng.
Khái niệm về chất lƣợng sản phẩm. Khái niệm chất lượng đã xuất hiện từ lâu, ngày nay được sử dụng phổ biến trong mọi lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh của con người. Tuy nhiên, hiểu như thế nào là chất lượng sản phẩm lại là vấn đề không đơn giản. Chất lượng sản phẩm là một phạm trù rất rộng và phức tạp, phản ánh tổng hợp các nội dung kỹ thuật, kinh tế và xã hội.
Do tính phức tạp đó nên hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng sản phẩm. Đứng ở những góc độ khác nhau và tùy theo mục tiêu, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh có thể đưa ra những quan niệm về chất lượng xuất phát từ sản phẩm, từ người sản xuất hay từ đòi hỏi của thị trường. Theo quan niệm xuất phát từ sản phẩm cho rằng chất lượng sản phẩm được phản ánh bởi các thuộc tính đặc trưng của sản phẩm đo. Quan niệm này đã đồng nghĩa sản phẩm với số lượng các thuộc tính hữu ích của sản phẩm.
Tuy nhiên, sản phẩm có thể có nhiều thuộc tính hữu ích nhưng không được người tiêu dùng đánh giá cao. Theo quan niệm của các nhà sản xuất thì chất lượng là sự hoàn hảo và phù hợp của một sản phẩm với một tập hợp các yêu cầu hoặc tiêu chuẩn, quy cách đã được xác định trước. Chẳng hạn, chất lượng được định nghĩa là tổng hợp những tính chất đặc trưng của sản phẩm thể hiện mức độ thỏa mãn những yêu cầu định trước cho nó trong điều kiện kinh tế, xã hội nhất định. Quan niệm này cũng giống quan niệm xuất phát từ sản phẩm ở chỗ chất lượng sản phẩm phản ánh đặc trưng kinh tế - kỹ thuật của sản xuất, mới chủ phản ánh mối quan 4 z tâm của người sản xuất đến việc đạt được những chỉ tiêu chất lượng đặt ra mà chưa tính đến nhu cầu đích thực của khách hàng.
Trong nền kinh tế thị trường, đã có nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng sản phẩm. Những khái niệm này xuất phát và gắn bó chặt chẽ với các yếu tố cơ bản của thị trường như nhu cầu, cạnh tranh, giá cả,. Xuất phát từ người tiêu dùng, chất lượng được định nghĩa là sự phù hợp của sản phẩm với mục đích sử dụng của người tiêu dùng. Trong cuốn” chất lượng là thứ cho không” Philip Crosby định nghĩa: “ Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu”.
Theo Jospb Juran: “ Chất lượng là sự phù hợp với mục đích hoặc sự sử dụng”, hay theo Armand Feigenbaum: “ Chất lượng là những đặc điểm tổng hợp của sản phẩm, dịch vụ mà khi sử dụng sẽ làm cho sản phẩm, dịch vụ đáp ứng được mong đợi của khách hàng ”. Xuất phát từ mặt giá trị, chất lượng được hiểu là đại lượng đo bằng tỷ lệ giữa lợi ích thu được từ tiêu dùng sản phẩm với chi phí phải bỏ ra để đạt được lợi ích đó. Theo quan niệm này, nhiều định nghĩa được đưa ra như: “ Chất lượng là cung cấp những sản phẩm và dịch vụ ở giá mà khách hàng chấp nhận”, hoặc: “ Chất lượng là cái mà khách hàng phải trả đùng với cái họ nhận được ”. Những quan niệm hướng theo thị trường được nhiều nhà nghiên cứu và các doanh nghiệp tán đồng vì nó phản ánh đúng nhu cầu của người tiêu dùng, giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu thỏa mãn khách hàng, đạt được thành công trong kinh doanh.
Theo tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa ( ISO ) định nghĩa: “ Chất lượng là mức độ thỏa mãn của một tập hợp các thuộc tính vốn có của một sản phẩm, hệ thống hoặc quá trình đối với các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan ”. Yêu cầu là những nhu cầu hay mong đợi được nêu ra hay tiềm ẩn. Định nghĩa này được chấp nhận một cách rộng rãi trong hoạt động kinh doanh quốc tế hiện nay. Khái niệm quản lý chất lƣợng.
Chất lượng không tự nhiên sinh ra và cũng không phải là một kết quả ngẫu nhiên, nó là kết quả tác động của hàng loạt các yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau. Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản lý tốt các yếu tố này. Hoạt động quản lý định hướng vào chất lượng được gọi là quản lý chất lượng Quản lý chất lượng là một khái niệm được phát triển và hoàn thiện liên tục, thể hiện ngày càng đầy đủ hơn bản chất chất tổng hợp, phức tạp của vấn đề chất lượng và phản ánh sự thích ứng với điều kiện và môi trường kinh doanh mới. Hiện nay, quản lý chất lượng đã mở rộng tới tất cả các hoạt động, từ sản xuất đến cung cấp dịch vụ và trong toàn bộ chu trình sản phẩm.
Có nhiều khái niệm về quản lý chất lượng được đưa ra, tuy nhiên một khái niệm đầy đủ sẽ phải đề cập đến những vấn đề cơ bản của quản lý chất lượng: Mục tiêu của quan lý chất lượng là gì? Phạm vi bao trùm của nó và mối quan hệ với môi trường bên ngoài như thế nào? Chức năng của quản lý chất lượng là gì? Nhiệm vụ của quản lý chất lượng là gì? và quản lý bằng những phương tiên, biện pháp nào? Từ những căn cứ trên có thể đưa ra khái niệm quản lý chất lượng như sau: Quản lý chất lượng là một tập hợp những hoạt động của chức năng quản lý chung nhằm xác định chính sách chất lượng, mục tiêu, trách nhiệm và thực hiện chúng bằng các biện pháp hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lương, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống chất lượng. Như vậy, trước hết quản lý chất lượng là tổng hợp các hoạt động của chức năng quản lý như: Hoạch định, tổ chức, kiểm soát, điều chỉnh và cải tiến toàn bộ các hoạt động, quá trình thực hiện và kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đó chính là việc xác định mục tiêu, đề ra nhiệm 6 z vụ, tìm con đường đạt tới và giải quyết có hiệu quả những mục tiêu chất lượng đã đề ra. Vì vây, có thể nói quản lý chất lượng chính là chất lượng của quản lý.
Mục tiêu của quản lý chất lượng trong các doanh nghiệp là đảm bảo chất lượng sản phẩm, dịch vụ phù hợp với nhu cầu thị trường với chi phí tối ưu. Hiệu quả quản lý chất lượng của doanh nghiệp được đánh giá trên hai tiêu chuẩn cơ bản: Sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp thỏa mãn những đòi hỏi của khách hàng như thế nào? Doanh nghiệp cung cấp sản phẩm, dịch vụ có hiệu quả đến dâu? Quản lý chất lượng là hệ thống các hoạt động, các biện pháp quản lý hành chính, tổ chức, kinh tế, kỹ thuật, xã hội và tâm lý. Quản lý chất lượng là trách nhiệm của tất cả mọi thành viên trong doanh nghiệp, nó phải được thực hiện ở mọi cấp, mọi khâu, mọi quá trình. Quản lý chất lượng vừa có ý nghĩa chiến lược, vừa mang tính tác nghiệp.
Quản lý chất lượng phải được thực hiện thông qua một cơ chế nhất định, bao gồm hệ thống các chỉ tiêu, tiêu chẩn đặc trưng kinh tế - kỹ thuật biểu thị mức độ thỏa mãn nhu cầu thị trường, một hệ thống tổ chức điều khiển, một hệ thống chính sách khuyến khích phát triển chất lượng và quy trình, trách nhiệm. Quản lý chất lượng được thực hiện trong suốt chu trình sống của sản phẩm từ thiết kế, chế tạo đến sử dụng sản phẩm. Trách nhiệm cảu doanh nghiệp không dừng lại ở khâu bán sản phẩm mà còn có trách nhiệm cả khi sản phẩm đã đến tay khách hàng. Quản lý chất lượng là một quá trình mang tính hệ thống, thể hiện sự gắn bó chặt chẽ giữa bên trong và bên ngoài: Quản lý chất lượng tập trung trước tiên vào quản trị quá trình, đảm bảo toàn bộ quá trình được kiểm soát.
Các công cụ thống kê được sử dụng rộng rãi để phát triển nguyên nhân và khắc phục những vấn đề chất lượng. 7 z Nhiệm vụ của quản lý chất lượng trong sản xuất là duy trì và cải tiến chất lượng của doanh nghiệp nhằm đảm bảo chất lượng theo những tiêu chuẩn đã được quy định (theo thiết kế, theo tiêu chuẩn ngành, quốc gia,.) và phải đáp ứng ngày càng tốt hơn những đòi hỏi của khách hàng. Các nguyên tắc quản lý chất lƣợng Nguyên tắc 1: Định hƣớng vào khách hàng Chất lượng sản phẩm và dịch vụdo khách hàng xem xét quyết định. Các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm và dịch vụmang lại giá trịcho khách hàng và làm cho khách hàng thoảmãn và phải là trọng tâm của hệthống chất lượng.
Chất lượng định hướng vào khách hàng là một yếu tốchiến lược, dẫn tới khả năng chiếm lĩnh thịtrường, duy trì và thu hút khách hàng, nó đòi hỏi phải luôn nhạy cảm với yêu cầu của thị trường, nó cũng đòi hỏi ý thức phát triển công nghệ, khả năng đáp ứng mau chóng và linh hoạt các yêu cầu của thị trường. Theo nguyên tắc này, doanh nghiệp phải - Hiểu nhu cầu và mong đợi của khách hàng; - Thông tin các mong đọi và nhu cầu này trong toàn bộdoanh nghiệp; - Đo lường sự thoảmãn của khách hàng và có các hành động cải tiến có kết quả; - Nghiên cứu các nhu cầu của cộng đồng; và - Quản lý các mối quan hệ của khách hàng và cộng đồng Nguyên tắc 2: Sự lãnh đạo Lãnh đạo thiết lập sựthống nhất đồng bộgiữa mục đích, đường lối và môi trường nội bộtrong doanh nghiệp. Hoạt động chất lượng sẽ không có hiệu quả nếu không có sựcam kết triệt đểcủa lãnh đạo. Lãnh đạo doanh nghiệp phải có tầm nhìn cao, xây dựng những giá trị rõ ràng, cụ thểvà định hướng vào khách hàng.
Lãnh đạo phải chỉ đạo và tham gia xây dựng chiến lược, hệthống và và các biện pháp huy động sựtham gia và tính sáng tạo của mỗi nhân viên để xây 8 z dựng, nâng cao năng lực của doanh nghiệp và đạt kết quảtốt nhất có thể được.