mở đầu quan trọng, thì việc tổ chức thực thi tốt chính sách lại đóng vai trò quyết định đối với cả chu trình chính sách công. Vì tuy có chính sách đúng đắn rồi, nhưng nếu khâu thực hiện bị xem thường hoặc thực hiện không đến nơi đến chốn thì sẽ làm cho chính sách trở nên mất ý nghĩa (không chỉ là khâu hiệu suông, mà còn làm mất uy tín của chủ thể hoạch định chính sách công), làm cho nhân dân suy giảm niềm tin vào chính quyền nhà nước. Và hệ quả của nó khiến bắt lợi cả về mặt chính trị và mặt xã hội, vê lâu dài là gây nên những bat ôn cho Nhà nước và Dang cam quyên. 10 Qua việc tổ chức thực hiện chính sách mới đo lường đánh giá khách quan, chính xác đối với tính đúng đắn, tính khả thi phù hợp của chính sách ấy hay không, vì thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý.
- Khái niệm về thực hiện chính sách TGBC Từ khái niệm về thực hiện chính sách công, ta có thể hiểu về thực hiện TGBC như sau: 7hực hiện chính sách TGBC là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của chủ thể trong chính sách TGBC thành hiện thực với đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng của Nhà nước về tinh gọn bộ máy Nhà nước, nâng cao chất lượng đội ngũ CB, CC,VC. Một số khái niệm khác có liên quan - Khải niệm công chức và công chức chuyên ngành THADS + Khái niệm công chức Theo Luật Cán bộ, công chức sửa đổi bổ sung năm 2019 xác định: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bé nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vi trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng: trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [20]. + Khái niệm công chức chuyên ngành THADS Hiện nay pháp luật chưa có một điều khoản cụ thé nào quy định liệt kê tất cả các ngạch công chức thuộc hệ thống THADS, tuy nhiên trên cơ sở nghiên cứu và tổng hợp các quy định tại Luật THADS năm 2008, sửa đôi, bổ sung năm 2014 (Điều 23, Điều 25), Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18 11 tháng 07 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS (Điều 52, Điều 56, Điều 66, Điều 71, Điều 78, Điều 80, Điều 81 và Điều 82) và các văn bản pháp luật khác có liên quan thi các ngạch công chức chuyên ngành THADS bao gom Chấp hành viên (gồm có CHV cao cấp, CHV trung cấp và CHV sơ cấp); Thẩm tra viên THADS (gdm có Thẩm tra viên cao cấp, Thẩm tra viên chính va Thẩm tra viên); Thư ký thi hành án (g6m có Thư ký thi hành án và Thư ký trung cấp thi hành án). Ngoài các ngạch công chức chuyên môn chuyên ngành THADS nêu trên, trong hệ thống THADS (các đơn vi trực thuộc Tổng Cục THADS thuộc Bộ Tư pháp, các đơn vi trực thuộc Cục THADS cấp tỉnh và Chi cục THADS cấp huyện) còn có các ngạch chuyên môn khác như các ngạch chuyên viên (gồm có Chuyên viên cao cấp, Chuyên viên chính, Chuyên viên) và các ngạch Cán sự, Nhân viên được quy định tai Thông tư số 11/2014/TT-BNV ngày 09/10/2014 của Bộ Nội vụ quy định chức danh, mã số ngạch và tiêu chuẩn nghiệp vụ chuyên môn các ngạch công chức chuyên ngành hành chính; Ngach kế toán nghiệp vụ THADS, ngạch kế toán hành chính sự nghiệp THADS và các ngạch văn thư, lưu trữ, công nghệ thông tin, phục vụ, bảo vệ, lái xe, thủ kho vật chứng, bảo vệ kho vật chứng v.
được quy định tại các văn bản chuyên ngành tương ứng. Đặc điểm tỉnh giản biên chế 1. Quan điển của Đảng về tỉnh giản biên chế Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề TGBC. Từ khi thực hiện đường lỗi đổi mới toàn diện đất nước, Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết để TGBC nhằm đáp ứng tinh gọn bộ máy nhà nước.
Đại hội VI đã xác định: “TGBC hành chính nhà nước, nhằm phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội” tinh than này tiếp tục được đề cập trong các Đại hội VII, VII, IX, X, XI, XI, XIII; đặc biệt, Ban Chấp hành 12 Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 về TGBC và cơ cấu lại đội ngũ CB, CC, VC, trong đó nêu rõ: Phải xác định tỉ lệ tỉnh giản biên chế đến năm 2021 tối thiểu là 10% biên chế của bộ, ban, ngành, tô chức chính trị - xã hội, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Đối với đơn vị sự nghiệp công lập có nguồn thu sự nghiệp, khuyến khích day mạnh chuyên đồi thêm 10% số lượng viên chức sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm và xã hội hóa, thay thế nguồn trả lương từ ngân sách nhà nước bằng việc trả lương từ nguồn thu sự nghiệp”. Dé tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác TGBC, ngày 18/7/2022, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 40/KL-TW về nâng cao hiệu quả công tác quản lý biên chế của hệ thống chính tri giai đoạn 2022-2026 với 06 nội dung cu thé sau: Thứ nhất, tiếp tục đây mạnh thực hiện TGBC theo Nghị quyết Đại hội XII của Đảng. Giai đoạn 2021 - 2026, toàn hệ thống chính trị tỉnh giản ít nhất 5% biên chế CB, CC và ít nhất 10% biên chế VC hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Đối với các cơ quan, tô chức, địa phương, đơn vi chưa thực hiện giảm đủ 10% biên chế giai đoạn 2016 - 2021 thì phải đồng thời vừa thực hiện mục tiêu TGBC giai đoạn 2022 - 2026, vừa phải tiếp tục thực hiện chỉ tiêu TGBC giai đoạn 2016 - 2021. Những nơi thực hiện vượt chỉ tiêu giai đoạn 2016 - 2021 thì phần vượt được tính vào kết quả thực hiện giai đoạn 2022 - 2026. Trước mắt giữ ôn định số lượng biên chế công đoàn địa phương đã giao vượt so với biên chế được giao. Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và các cấp uy, tổ chức đảng liên quan tiến hành kiểm tra, tong kết, đánh giá tổng thé tình hình quản lý và giao biên chế công đoàn làm cơ sở tham mưu, hướng dẫn việc giao biên chế đối với cơ quan liên đoàn lao động cấp tỉnh, cấp huyện.
Sau khi có hướng dẫn giao biên chế đối với cơ quan liên đoàn lao động cấp tỉnh, cấp huyện thì ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ thực hiện giao biên chế công đoàn theo quy định trong tông sô biên chê được giao. 13 Thứ hai, biên ché được giao giai đoạn 2022 - 2026 không bao gồm lao động hợp đồng. Các cơ quan, tổ chức, đơn vị tự quyết định việc sử dụng hợp đồng lao động và trả lương, phụ cấp cho lao động hop đồng theo quy định từ ngân sách chi thường xuyên của cơ quan, don vi. Thứ ba, Bộ Chính trị uỷ quyền cho Ban Chỉ đạo xem xét, quyết định sử dụng biên chế dự phòng khi cần thiết (biên chế dự phòng khoảng 0,5% tổng biên chế).
Ban Tổ chức Trung ương, Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Quân uỷ Trung ương, Đảng uỷ Công an Trung ương, Ban cán sự đảng Toà án nhân dân tối cao, Ban cán sự đảng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Ban cán sự đảng Kiểm toán Nhà nước quản lý biên chế các cơ quan, tô chức, địa phương, đơn vi trực thuộc theo thâm quyên. Các cơ quan, tổ chức được giao thâm quyên quản lý biên chế chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp triển khai chủ trương, quyết định của Bộ Chính trị và thực hiện thâm quyền giao, quản lý biên chế theo quy định; kiêm tra, giám sát việc thực hiện quản lý, sử dụng biên chế của các cơ quan, tổ chức, địa phương, đơn vị thuộc thẩm quyền. Thứ tw, Các cap uỷ, tô chức đảng trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quản lý, sử dụng biên chế ở địa phương, cơ quan, đơn vi; trực tiếp quản lý biên chế được giao, lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai giao biên chế cho các cơ quan, tô chức, địa phương, đơn vị trực thuộc bảo đảm chặt chẽ, hiệu quả, đúng quy định. Thứ năm, Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, bổ sung, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, bảo đảm đồng bộ, thống nhất với chủ trương, quy định của Đảng về quản lý biên chế.
14 Thứ sáu, Ban Tô chức Trung ương hoàn thành danh mục vi trí việc làm trong hệ thong chính tri; giúp Bộ Chính tri, Ban Bi thu, Ban Chỉ đạo hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc thực hiện công tác quản lý biên chế; định kỳ hoặc khi cần thiết báo cáo Bộ Chính trị, Ban Chỉ đạo. Chính sách tỉnh giản biên chế Thực hiện quan điểm chủ trương của Đảng, Chính phủ đã cụ thể hóa bằng việc ban hành Nghị định 108/2014/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2014 về chính sách TGBC; Nghị định 113/2018/NĐ-CP ngày 31 tháng § năm 2018 về việc bồ sung, sửa đổi một số Điều của Nghị định 108/2014/NĐ-CP về chính sách TGBC; và Nghị định 143/2020/NĐ-CP ngày 10 tháng 12 năm 2020 về bổ sung, sửa đổi đối với Nghị định 113/2018/NĐ-CP và Nghị định 108/2014/NĐ-CP. Các văn bản quản lý này đã quy định khá rõ về đối tượng áp dụng, phạm vi điều chỉnh và nguyên tắc TGBC. Nhất là quy định cụ thê về chính sách TGBC gồm có: chính sách chuyên sang làm việc ở những cơ quan không hưởng lương thường xuyên từ NSNN, chính sách về nghỉ hưu trước tuôi; chính sách về thôi việc (chính sách về thôi việc ngay sau khi đã được đi học nghề, chính sách vẻ thôi việc ngay); chính sách áp dụng đối với người thôi giữ chức lãnh đạo hoặc được bau cử, bổ nhiệm vào các chức vụ khác có mức phụ cấp chức vụ lãnh đạo mới thấp hon do tái sắp xếp bố trí.