Chương 1: Những vấn đề lý luận về tái lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Chương 2: Quy đßnh của pháp luật hình sự Viát Nam và thực tißn xét xử tại tỉnh Bắc Giang về tái lừa đảo chiếm đoạt tài sản Chương 3: Yêu cầu và các bián pháp bảo đảm xét xử đúng tái lừa đảo chiếm đoạt tài sản. 5 CH¯¡NG 1 NHĄNG VÂN ĐÀ LÝ LUÂN VÀ TÞI LĀA ĐÀO CHI¾M ĐO¾T TÀI SÀN 1. Khái niãm và các dÃu hiãu pháp lý căa tßi lāa đÁo chi¿m đo¿t tài sÁn 1.
Khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Theo Từ điển bách khoa Viát Nam thì <lừa đảo= được hiểu là viác <lừa bằng thủ đoạn xảo trả để chiếm lấy của cải, tài sản=. Tuy nhiên, đây chỉ là cách hiểu thông thưßng về khái niám <lừa đảo chiếm đoạt tài sản=, xem xét hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới góc đá là mát hián tượng xã hái tiêu cực. Trong BLHS Viát Nam, tái lừa đảo chiếm đoạt tài sản luôn được quy đßnh tại chương các tái xâm phạm sá hữu. Do đó, khái niám tái lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải thể hián được đồng thßi đặc điểm chung của các tái xâm phạm sá hữu và đặc điểm riêng của tái lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Căn cứ vào khái niám tái phạm được quy đßnh tại khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015, khoa hác luật hình sự đưa ra khái niám về các tái xâm phạm sá hữu như sau: <Các tội xâm phạm sở hữu là hành vi của người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân=1. Khái niám đã khái quát được những đặc điểm chung về khách thể, chủ thể và mặt chủ quan của của các tái xâm phạm sá hữu. Điều 174 BLHS năm 2015 quy đßnh về tái lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau: <Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác.= Căn cứ vào quy đßnh trên, khoa hác luật hình sự đã đưa ra khái niám về tái lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới góc đá pháp lý như sau: <Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối=2. Hành vi chiếm đoạt tài sản phải được thực hián bái lßi cố ý trực tiếp, tức là ngưßi phạm tái biết tài sản chiếm đoạt đang có ngưßi chiếm hữu, quản lý nhưng vẫn mong muốn biến tài sản đó thành tài sản của mình.
Khái 1 Giáo trình luật hình sự Viát Nam (tập II), Nxb Công an nhân dân, Hà Nái [tr.9] 2 Giáo trình luật hình sự Viát Nam (tập II), Nxb Công an nhân dân, Hà Nái [tr.37] 6 niám mới chỉ thể hián những đặc trưng cơ bản của tái lừa đảo chiếm đoạt tài sản dựa trên đặc điểm của hành vi khách quan. Từ những phân tích trên, khái niám tái lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể được đßnh nghĩa như sau: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 1. Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Khách thể của tái phạm là quan há xã hái được luật hình sự bảo vá và bß tái phạm xâm hại. Tái lừa đảo chiếm đoạt tài sản thuác nhóm các tái xâm phạm sá hữu.
Do đó, khách thể loại và khách thể trực tiếp của tái lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quan há sá hữu được pháp luật bảo vá. Quan há sá hữu là quan há xã hái trong đó quyền chiếm hữu, sử dụng và đßnh đoạt tài sản được tôn tráng và bảo vá3. Quan há sá hữu được xác lập giữa mát bên là chủ tài sản có quyền chiếm hữu, sử dụng và đßnh đoạt tài sản của mình và mát bên là những ngưßi khác có nghĩa vụ tôn tráng quyền sá hữu của chủ tài sản đó. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản làm mất khả năng chiếm hữu, quản lý tài sản trên thực tế của chủ tài sản, vi phạm nghĩa vụ tôn tráng quyền sá hữu của chủ tài sản, qua đó xâm phạm đến quan há sá hữu được pháp luật bảo vá.
Mái tái phạm đều có đối tượng tác đáng nhất đßnh. Đối tượng tác đáng của tái phạm là bá phận của khách thể của tái phạm, nó bß hành vi phạm tái tác đáng đến để gây thiát hại hoặc đe dáa gây thiát hại cho những quan há xã hái được luật hình sự bảo vá. Đối tượng tác đáng của tái lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tài sản4. Tài sản là đối tượng tác đáng của tái lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải là tài sản đang nằm trong sự quản lý của chủ tài sản, bái đặc trưng của hành vi chiếm đoạt là hành vi làm 3 Bá luật dân sự 2005 (Điều 169) và Bá luật dân sự 2015 (Điều 163) đều ghi nhận quyền sá hữu của cá nhân, pháp nhân và chủ thể khác được pháp luật tôn tráng và bảo vá.
Theo đó , không ai có thể bß hạn chế, bß tước đoạt trái pháp luật quyền sá hữu, quyền khác đối với tài sản của mình. 4 Tài sản theo quy đßnh tại khoản 1 Điều 105 Bá luật dân sự 2015 bao gồm vật, tiền, giấy tß có giá và quyền tài sản. 7 cho chủ tài sản mất hẳn khả năng chiếm hữu, quản lý tài sản trên thực tế và tạo khả năng đó cho ngưßi chiếm đoạt, vì vậy chỉ khỉ tài sản đang nằm trong sự chiếm hữu, quản lý chủ tài sản thì mới nói đến hành vi <làm mất khả năng đó=. Vì vậy, tài sản bß thất lạc (bß mất, bß bỏ quên, bß đánh rơi) không thể là đối tượng của hành vi chiếm đoạt nói chung và tái lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng.
Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Chủ thể của tái phạm theo quy đßnh của BLHS có thể là cá nhân hoặc pháp nhân thương mại. Pháp nhân thương mại cũng là chủ thể của tái phạm. Đây là mát quy đßnh mới của Bá luật hình sự khi ghi nhận pháp nhân cũng là mát chủ thể của tái phạm. Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lượi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên.
Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiáp và các tổ chức kinh tế khác. Đây là chủ thể đặc biát, theo quy đßnh của Bá luật hình sự, pháp nhân thương mại chỉ phải chßu trách nhiám hình sự khi có đủ các điều kián quy đßnh tại Điều 75 của BLHS. Tuy nhiên tại Điều 76 BLHS lại không quy đßnh pháp nhân phải chßu trách nhiám hình sự đối với tái lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, pháp nhân thương mại không phải là chủ thể của tái lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Cá nhân phạm tái là ngưßi có năng lực trách nhiám hình sự, đạt đá tuổi luật đßnh và đã thực hián hành vi phạm tái cụ thể. Trong BLHS Viát Nam không quy đßnh thế nào là ngưßi có năng lực trách nhiám hình sự mà chỉ quy đßnh đá tuổi chßu trách nhiám hình sự và tình trạng không có năng lực trách nhiám hình sự. Trên cơ sá các quy đßnh đó, khoa hác luật hình sự đưa ra đßnh nghĩa về ngưßi có năng lực trách nhiám hình sự <là người đã đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và không thuộc trường hợp ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự=.5 Năng lực trách nhiám hình sự chỉ được hình thành khi con ngưßi đã đạt đá tuổi nhất đßnh và sẽ tiếp tục phát triển hoàn thián trong thßi gian tiếp theo. Theo BLHS Viát Nam 5 Giáo trình luật hình sự Viát Nam (tập I), Nxb Công an nhân dân, Hà Nái [tr.123] 8 thì ngưßi từ đủ 16 tuổi trá lên phải chßu trách nhiám hình sự về mái tái phạm, trừ những tái phạm mà BLHS có quy đßnh khác; Ngưßi từ đủ 14 tuổi trá lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chßu trách nhiám hình sự về tái phạm rất nghiêm tráng, tái phạm đặc biát nghiêm tráng quy đßnh tại khoản 2 Điều 12 BLHS, nghĩa là về các tái như: lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tái cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của ngưßi khác, tái hiếp dâm ngưßi dưới 16 tuổi, tái cưỡng dâm ngưßi từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tái cướp tài sản, tái bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản và mát số tái rất nghiêm tráng hoặc đặc biát nghiêm tráng khác (trong đó không bao gồm tái lừa đảo chiếm đoạt tài sản).
Tuy nhiên, năng lực trách nhiám hình sự cũng có thể bß hạn chế hoặc bß loại trừ hoàn toàn nếu ngưßi đó bß mắc các bánh làm rối loạn hoạt đáng bình thưßng của bá não. Chính vì vậy, luật hình sự ngoài viác quy đßnh đá tuổi chßu trách nhiám hình sự còn quy đßnh những trưßng hợp loại trừ trách nhiám hình sự. Theo quy đßnh tại Chương IV BLHS thì ngưßi thực hián hành vi nguy hiểm cho xã hái trong khi đang mắc bánh tâm thần hoặc mát bánh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình, thì không phải chßu trách nhiám hình sự mà phải áp dụng bián pháp bắt buác chữa bánh. Trong thực tißn áp dụng, khi đánh giá về năng lực trách nhiám hình sự của mát cá nhân thì hầu như chỉ áp dụng viác xác đßnh đá tuổi chßu trách nhiám hình sự và nếu trong quá trình giải quyết các cơ quan tố tụng có sự nghi ngß về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của ngưßi đó thì mới cần kiểm tra xem có phải là trưßng hợp á trong tình trạng không có năng lực trách nhiám hình sự hay không.
Căn cứ vào những quy đßnh trên, chủ thể của tái lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ có thể là ngưßi từ đủ 16 tuổi trá lên đối với mái trưßng hợp phạm tái và không thuác trưßng hợp không có năng lực trách nhiám hình sự. Chủ thể của tái lừa đảo chiếm đoạt tài sản là chủ thể thưßng, tức là mái cá nhân đạt đá tuổi luật đßnh, không á trong tình trạng không có năng lực trách nhiám hình sự và đã thực hián hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy đßnh tại Điều 174 BLHS thì đều có thể trá thành chủ thể của tái này. 9 BLHS năm 2015 quy đßnh khác về chủ thể của tái lừa đảo chiếm đoạt tài sản.