Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN CÓ ĐĂNG KÝ QUYỀN SỞ HỮU 1. CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN CÓ ĐĂNG KÝ QUYỀN SỞ HỮU TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Sở hữu là quan hệ xã hội giữa người với người trong việc chiếm hữu tư liệu sản xuất và của cải xã hội. Sở hữu không chỉ bao gồm quan hệ con người chiếm hữu tư liệu sản xuất, của cải, mà điều cốt yếu là đề cập đến quan hệ giữa người với người trong quá trình diễn ra sự chiếm hữu đó.
Người ta phân biệt hai loại sở hữu: sở hữu mang tính dân sự (sở hữu nhà ở, đồ dùng cá nhân) và sở hữu tư liệu sản xuất. Quan hệ sở hữu là một trong những quan hệ cơ bản và quan trọng nhất của một thể chế. Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của các quốc gia trên thế giới luôn xác định sở hữu, quyền sở hữu là vấn đề trọng tâm của pháp luật. Các quan hệ tài sản luôn xuất phát từ quan hệ sở hữu, chính vì thế quan hệ sở hữu là tiền đề, là xuất phát điểm cho tính hợp pháp của các quan hệ khác.
Bảo vệ quyền sở hữu tài sản đóng vai trò quan trọng trong các văn bản pháp lý của Nhà nước, ở đó tài sản là đối tượng vừa là khách thể của quan hệ sở hữu. Yêu cầu cơ bản nhất đặt ra đối với bảo vệ quyền sở hữu tài sản là tài sản đó phải giao dịch được và được phép đưa vào giao dịch, nó là đối tượng phổ biến LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được điều chỉnh bởi các quy định của cả hệ thống pháp luật. Do đó, quan hệ sở hữu trong xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến kết cấu giai cấp, bản chất chính trị của xã hội. Sở hữu là một vấn đề kinh tế - chính trị, phải có quan điểm chính trị khi bàn về vấn đề sở hữu chứ không chỉ thuần túy các quan điểm kinh tế khi xem xét vấn đề này.
Nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đòi hỏi phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế xã hội có tính chất quá độ và trong thời kỳ quá độ ấy có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế. Trong đường lối kinh tế, Đảng ta đề ra: Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều này cũng có nghĩa là các quan hệ sở hữu và hệ thống lý luận về sở hữu ở nước ta còn nhiều điều cần bổ sung, hoàn thiện và điều chỉnh cho phù hợp với tình hình kinh tế - chính trị. Cũng chính vì vậy mà các quan hệ sở hữu (sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân) còn chưa hoàn thiện về hình thức, còn nhiều tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu.
Bởi vậy, một hệ thống pháp luật bảo vệ quyền sở hữu là hết sức cần thiết và quan trọng. Hiện nay, để bảo vệ quyền sở hữu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tài sản của công dân, Nhà nước ta đã đưa ra nhiều quan hệ pháp luật để điều chỉnh: - Hiến pháp - Quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, thể chế hóa mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý; đồng thời ghi nhận các nguyên tắc, chính sách bảo vệ quyền sở hữu của công dân; - Bộ luật dân sự - Bảo vệ các quyền sở hữu tài sản trong quan hệ dân sự; - Luật đầu tư - Bảo vệ quyền sở hữu tài sản trong đầu tư sản xuất kinh doanh; - Luật hành chính - Đưa ra các biện pháp xử lý hành chính đối với việc xâm phạm quyền sở hữu tài sản ở mức độ nhẹ; - Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước - Quy định nguyên tắc sử dụng tài sản công, chế tài xử phạt vi phạm; Và Bộ luật hình sự quy định việc xử lý những hành vi xâm phạm chế độ sở hữu tài sản được nhà nước bảo hộ. Đó là những hành vi nguy hiểm cho xã hội và cần phải giáo dục, phòng ngừa, răn đe, trừng phạt để bảo vệ quyền sở hữu của công dân. Trong Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) có riêng một chương quy định về các tội xâm phạm sở hữu, bao gồm 13 điều quy định rõ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các hành vi xâm phạm sở hữu được Nhà nước bảo vệ.
Nhóm tội phạm xâm phạm về sở hữu mang những đặc điểm: Về khách thể: Đó là quan hệ sở hữu, có nghĩa là các tội xâm phạm sở hữu phải là những hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và gây thiệt hại này phải phản ánh đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó. Về khách quan: Đó là các hành vi như chiếm đoạt, chiếm giữ trái phép, sử dụng trái phép, hủy hoại, làm hư hỏng tài sản,… Tuy hình thức thể hiện khác nhau nhưng những hành vi này đều xâm phạm đến quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của chủ sở hữu tài sản. Về chủ quan: Hầu hết các tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý, chỉ có hai tội phạm được thực hiện do lỗi vô ý. Về chủ thể: Đó là những người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định.
Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu chỉ được giới hạn trong luận văn là Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký quyền sở hữu, chúng tôi chỉ nghiên cứu những vấn đề lý luận xoay quanh tội phạm được quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009): Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm: a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó; b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản [25]. Từ những phân tích trên, xét một cách chung nhất, dưới góc độ khoa học luật hình sự thì khái niệm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi của một chủ thể có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo pháp luật hình sự đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng trở lên thông qua hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để nhằm mục địch đích chiếm đoạt tài sản đó hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng hoàn trả lại tài sản.
Dựa vào lý luận về cấu thành tội phạm và quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bổ sung năm 2009) cho phép chỉ ra các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội phạm này như sau: 1) Khách thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Quan hệ sở hữu tồn tại như một yếu tố khách quan trong xã hội vì thế muốn điều chỉnh các quan hệ sở hữu phát triển theo hướng có lợi, giai cấp thống trị dùng pháp luật để ghi nhận, củng cố địa vị của mình trong việc chiếm hữu của cải vật chất trước các giai cấp khác. Qua việc nghiên cứu cấu thành tội phạm này cho thấy khách thể trực tiếp bị tội phạm này xâm hại đó là quan hệ sở hữu tài sản. "Sở hữu được hiểu là việc chiếm giữ những sản vật tự nhiên, những thành quả lao động.
Ngày nay có cả tư liệu sản xuất của loài người" [45, tr. Quan hệ sở hữu là sự phản ánh việc chiếm hữu các tư liệu sản xuất, các vật phẩm giữa chủ thể này với các chủ thể khác. Do đó, quan hệ sở hữu luôn được luật hình sự bảo vệ (sở hữu là quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ gồm: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản theo quy định của pháp luật). a) Quyền chiếm hữu là quyền năng mà pháp luật quy định cho chủ sở hữu tự mình nắm giữ, quản lý tài sản.
Hành vi chiếm hữu được quy định cụ thể tại Điều 182 Bộ luật dân sự năm 2005 được hiểu theo nghĩa rộng, có thể là hành vi của chủ sở hữu trong việc kiểm soát thực tế, hoặc kiểm soát về mặt pháp lý đối với vật, hoặc chủ sở hữu đồng thời thực hiện cả hai hành vi này; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com b) Quyền sử dụng là một quyền năng mà pháp luật quy định cho chủ sở hữu được phép sử dụng các tài sản của mình nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt, sản xuất kinh doanh, song việc sử dụng đó không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng tới lợi ích của các chủ thể khác; c) Quyền định đoạt là quyền năng mà pháp luật quy định cho chủ sở hữu để quyết định số phận pháp lý của tài sản. Cả ba quyền năng cụ thể trên tạo thành một hệ thống nhất trong nội dung của quyền sở hữu, chúng có mối liên kết mật thiết với nhau nhưng mỗi quyền năng lại mang một ý nghĩa khác nhau.