Chương 1. Cơ sở lý luận và pháp lý về tổ chức và hoạt động của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Thực trạng tổ chức, hoạt động của TAND Thành phố Cần Thơ và một số giải pháp hoàn thiện. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TAND TỈNH , THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƢƠNG 1.
Chức năng, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương 1. Chức năng của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng Chức năng của TAND được quy định:“TAND tối cao, các TAND địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định là những cơ quan xét xử của 3 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Quy định trên khẳng định chỉ có Tòa án mới có quyền xét xử. Tòa án nhân danh nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật; xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình tố tụng; căn cứ vào kết quả tranh tụng ra bản án, quyết định việc có tội hoặc không có tội, áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp, quyết định về quyền và nghĩa vụ về tài sản, quyền nhân thân.
Bản án, quyết định của TAND có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành. Như vậy, chức năng của TAND là xét xử. Ngoài hoạt động xét xử, TAND còn giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật.2 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng Nguyên tắc là những điều cơ bản yêu cầu mọi tổ chức và cá nhân phải tuân thủ. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng trên cơ sở nguyên tắc tổ chức và hoạt động của TAND nói chung, căn cứ 3 Điều 102 Hiến pháp 2013 và khoản 1 điều 2 Luật tổ chức TAND 2014.
5 vào Hiến pháp và Luật Tổ chức TAND 2014. Căn cứ vào đó các TAND tỉnh, thành 4 phố trực thuộc Trung ương phải tuân thủ các nguyên tắc sau : - Nguyên tắc xét xử có Hội thẩm tham gia: theo Hiến pháp 2013 thì Hội thẩm chỉ tham gia xét xử ở cấp sơ thẩm. Quy định việc xét xử sở thẩm của Tòa án đã có Hội thẩm nhân dân tham gia đã có từ rất lâu, ngay từ những ngày thành lập TAND. Đây là một nguyên tắc mang tính dân chủ đại diện trong tố tụng dân sự.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở:“Trong công tác xử án phải công bằng, liêm khiết, trong sạch. Như thế cũng chưa đủ. Không chỉ giới hạn hoạt động của 5 mình trong khung Tòa án mà phải gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân…”. Muốn đưa ra quyết định đúng đắn, giải quyết các tranh chấp đúng pháp luật, hợp với lẽ công bằng, xử phạt đúng người, đúng tội đòi hỏi những người làm công tác xét xử phải có đạo đức trong sáng, có bản lĩnh, có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ vững vàng, có kiến thức và vốn hiểu biết cuộc sống, có kinh nghiệm hoạt động xã hội.
Vì thế pháp luật quy định khi xét xử có Hội thẩm tham gia là sự bổ sung cần thiết. - Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập: Hiến pháp năm 2013 có một bổ sung quan trọng trong nguyên tắc này, đó là “Cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm”. Quy định này nhấn mạnh tầm quan trọng cũng như thái độ kiên quyết của Nhà nước ta đối với việc can thiệp vào hoạt động xét xử của Tòa án, bảo đảm cho việc thực hiện nguyên tắc xét xử độc lập trên thực tế. - Nguyên tắc xét xử tập thể: Phán quyết của Toà án là quyết định của Hội đồng xét xử với một vụ án theo nguyên tắc đa số.
Nguyên tắc này nhằm bảo đảm công việc xét xử của tòa án được thực hiện một cách khách quan, chính xác. Ngoài ra, để thực hiện cải cách tư pháp, nâng cao hiệu quả của việc xét xử, bảo đảm cho việc xét xử nhanh chóng, kịp thời, tiết kiệm, Hiến pháp năm 2013 quy định ngoại lệ cho phép Tòa án xét xử bằng một Thẩm phán trong trường hợp áp dụng thủ tục rút gọn. 4 Điều 103 Hiến pháp 2013 5Tại Hội nghị học tập của ngành cán bộ Tư pháp năm 1950 6 - Nguyên tắc xét xử công khai: đây là nguyên tắc cơ bản nhằm bảo đảm sự giám sát của nhân dân, bảo đảm chức năng giáo dục, tuyên truyền pháp luật, phòng ngừa tội phạm và tăng cường trách nhiệm, chất lượng của cơ quan xét xử trước pháp luật. Ngoài ra, pháp luật quy định trường hợp ngoại lệ do luật định trong Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 quy định cụ thể điều kiện cho phép Tòa án xét xử kín.
Đó là “trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính 6 đáng của đương sự” thì Tòa án phải xét xử kín; - Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự: Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ quyền con người một cách toàn diện, công bằng, Hiến pháp năm 2013 ngoài việc quy định quyền bào chữa của bị can, bị cáo, còn bổ sung việc bảo đảm quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của các đương sự khác như người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong hoạt động xét xử của Tòa án. Đồng thời, Hiến pháp năm 2013 bổ sung một số nguyên tắc quan trọng, bảo đảm sự phù hợp với tinh thần Cải cách tư pháp, bảo vệ quyền con người và thông lệ quốc tế. Các nguyên tắc được bổ sung là: - Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm:“ Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm. Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho những người tham gia tố tụng thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử.
Việc thực hiện nguyên tắc tranh 7 tụng trong xét xử theo quy định của luật tố tụng”. - Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm: Nguyên tắc hai cấp xét xử là nguyên tắc xuyên suốt của hệ thống tư pháp của bất kỳ một quốc gia nào, được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế về quyền con người và pháp luật của mọi quốc gia. Thực hiện hai cấp xét xử là một trong những biện pháp bảo vệ quyền con người hữu 6 Điều 11 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 7Điều 13 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 7 hiệu, đồng thời bảo đảm cho hoạt động tư pháp thận trọng nhưng có điểm dừng, tránh kéo dài, chậm trễ. Hiến pháp năm 2013 không quy định nguyên tắc xét xử trực tiếp, nguyên tắc xét xử liên tục vì không đặc trưng cho hoạt động xét xử và phù hợp với thực tiễn hoạt động tư pháp ngày càng phức tạp, thường xuyên kéo dài hiện nay.
Đồng thời, tạo điều kiện để Tòa án hoạt động có hiệu quả về mặt thời gian, chi phí vật chất, sử dụng công nghệ kỹ thuật số hiện đại, bảo đảm an toàn cho những người tham gia tố tụng 8 khi cần thiết. Các nguyên tắc trên được ghi nhận trong Hiến pháp đã được cụ thể chi tiết trong Luật tổ chức TAND 2014, được đảm bảo thực hiện trong quá trình tổ chức và hoạt động của TAND các cấp nói chung và TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nói riêng. Cơ cấu tổ chức của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Sự ra đời của Hiến pháp năm 2013 đã kế thừa và thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng đối với giai đoạn phát triển mới của đất nước, hoạch định con đường xây dựng và tiến lên Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đã chọn và phát triển. Đối với TAND đã được quy định cụ thể hơn về quyền hạn của mình đó là “TAND là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện 9 quyền tư pháp” , Luật tổ chức TAND năm 2014 đã cụ thể hóa những quy định cơ bản, cốt lõi của quy định của Hiến pháp năm 2013 về Tòa án.
Cơ cấu thành viên: * Chánh án: Chánh án TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Chánh án TAND tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức. Nhiệm kỳ của Chánh án TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là 05 năm, kể từ ngày được bổ nhiệm và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Tổ chức công tác xét xử của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nguyên tắc Thẩm phán, 8 Nghị quyết số 33/2021/QH15 ngày 12/11/2021 của Quốc hội về tổ chức phiên tòa trực tuyến. 9 khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013. 8 Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức vụ trong TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, TAND huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và tương đương, trừ Thẩm phán, Phó Chánh án; Quyết định điều động, luân chuyển, biệt phái Thẩm phán theo quy định tại khoản 3 Điều 78, khoản 3 Điều 79 và khoản 3 Điều 80 của Luật tổ chức TAND; Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho Thẩm phán, Hội thẩm, các chức danh khác của Tòa án mình và TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; Báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và TAND tối cao; Kiến nghị Chánh án TAND cấp cao, Chánh án TAND tối cao xem xét, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của luật tố tụng; giải quyết những việc 10 khác theo quy định của pháp luật.
* Phó chánh án: Phó Chánh án TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Chánh án TAND tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức. Nhiệm kỳ của Phó Chánh án TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là 05 năm, kể từ ngày được bổ nhiệm. Phó Chánh án TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giúp Chánh án thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh án.