Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƢƠNG CẤP HUYỆN 1. Khái quát chung về chính quyền địa phƣơng 1. Khái niệm chính quyền địa phương Ở nước ta trước đây, thuật ngữ “chính quyền địa phương” đã được sử dụng tương đối rộng rãi và phổ biến trong các văn kiện của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước, các sách, báo chính trị, pháp lý cũng như trong các bài phát biểu của lãnh đạo Đảng và Nhà nước ở Trung ương và địa phương. Chính quyền địa phương được hiểu là một bộ phận hợp thành của bộ máy nhà nước, có tư cách pháp nhân, được pháp luật công nhận, đặt ở một cấp ĐVHC lãnh thổ nhất định.
Mỗi ĐVHC đều đặt trong lãnh thổ quốc gia và có những đặc điểm riêng về vị trí địa lý, kinh tế, xã hội và truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán. Do đó, chính quyền trung ương không thể quản lý và điều hành tốt đối với tất cả các công việc nên phân chia đất nước thành các ĐVHC lãnh thổ nhỏ hơn và cùng với việc phân chia đó là thành lập các cơ quan quản lý tương ứng để thuận lợi cho việc quản lý, điều hành trên các lĩnh vực. Đồng thời, việc tổ chức chính quyền địa phương cũng để chính quyền trung ương gần người dân hơn, tìm hiểu và thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của người dân cũng như thực hiện tốt hơn chức năng quản lý nhà nước ở địa phương. Ở Việt Nam, chính quyền địa phương là một bộ phận hợp thành, không thể tách rời trong hệ thống chính quyền nhà nước thống nhất, là hình thức pháp lý, thông qua đó Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình ở địa phương, là một thiết chế quyền lực được tổ chức trên một phạm vi lãnh thổ nhất định của quốc gia, nhằm quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa 8 e phương, kết hợp hài hòa giữa lợi ích của Nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước.
Hiến pháp năm 2013 đã sửa đổi tên gọi của Chương IX từ “Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân” thành “Chính quyền địa phương”. Việc sửa đổi tên gọi của Chương này đã thể hiện được tính thống nhất của bộ máy nhà nước và sự kết nối chặt chẽ giữa hai cơ quan tổ chức thực thi quyền lực nhà nước ở địa phương. HĐND và UBND là hai cơ quan có vị trí, chức năng khác nhau nhưng được tổ chức và hoạt động trên cùng một địa bàn, một cấp ĐVHC, có mối quan hệ chặt chẽ về mặt tổ chức và trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Đến Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2019, quy định chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt.
Như vậy, nhà nước là thiết chế gắn liền với lãnh thổ quốc gia nên một trong những công việc đầu tiên của nhà nước là phân chia lãnh thổ quốc gia thành các ĐVHC - lãnh thổ, đồng thời, thiết lập quyền lực, bộ máy quản lý trên ĐVHC - lãnh thổ. Để thực hiện quyền lực nhà nước trên lãnh thổ đó, nhà nước thành lập cơ quan tương ứng để quản lý. Bộ máy quản lý, điều hành trên các ĐVHC - lãnh thổ được gọi là chính quyền địa phương. Và như vậy, bộ máy quản lý, điều hành ở các ĐVHC - lãnh thổ là sự biểu hiện bên ngoài của việc thiết lập quyền lực nhà nước trên đơn vị lãnh thổ.
Từ đây, có thể nhận thấy rằng, thuật ngữ chính quyền địa phương chỉ là thuật ngữ được sử dụng để chỉ những thiết chế được thành lập để quản lý, điều hành trên đơn vị lãnh thổ nhất định, và để quản lý, điều hành trên một đơn vị lãnh thổ thì những thiết chế đó có nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định, đó là những thiết chế 9 e quyền lực nhà nước, hay quyền lực của cộng đồng lãnh thổ ở địa phương, tùy theo quy định của từng quốc gia. Như vậy, có thể hiểu: Chính quyền địa phương là một bộ phận hợp thành của chính quyền nhà nước thống nhất, là pháp nhân công quyền, được tổ chức ở các đơn vị hành chính lãnh thổ theo quy định của pháp luật nhằm quản lý mọi mặt của đời sống xã hội ở địa phương, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, kết hợp hài hòa giữa lợi ích nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước. Đặc điểm của chính quyền địa phương Dù cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước hay cơ cấu tổ chức hệ thống chính quyền địa phương của mỗi nước có những đặc thù khác nhau, song dù tổ chức theo kiểu nào thì chính quyền địa phương cũng đều là một bộ phận hợp thành và tất yếu của hệ thống chính quyền nhà nước. Chính quyền địa phương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật trong phạm vi ĐVHC do chính quyền địa phương quản lý.
Chính quyền địa phương được tổ chức ở các ĐVHC lãnh thổ với nhiều mô hình khác nhau, phù hợp với mỗi cấp ĐVHC và địa bàn đô thị, nông thôn, hải đảo và đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt theo quy định của pháp luật. Chính quyền địa phương là thiết chế nhà nước được thành lập ở địa phương, xuất phát từ Nhân dân địa phương và do Nhân dân địa phương lập nên để quản lý mọi mặt xã hội tại địa phương. Hiện nay, Nhân dân địa phương lập nên chính quyền địa phương thông qua hình thức bầu cử đại biểu HĐND các cấp – là cơ quan quyền lực nhà nước tại địa phương. Từ đó, HĐND bầu ra UBND là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
Chính quyền địa phương là pháp nhân công quyền được thành lập theo quy định của pháp luật để tổ chức thực hiện công việc của nhà nước ở địa phương. Mỗi cấp chính quyền địa phương thực hiện những chức năng, nhiệm 10 e vụ, quyền hạn khác nhau theo quy định của pháp luật và phù hợp với từng đặc điểm của ĐVHC. Chính quyền địa phương ở nước ta tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật, giải quyết các vấn đề phát sinh ở địa phương trên cơ sở thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và có sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích của nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước. Vị trí, chức năng của chính quyền địa phương Tổ chức bộ máy nhà nước ở nước ta được phân thành: Chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương.
Chính quyền Trung ương: Quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước; bảo đảm hiệu lực của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân. Chính quyền địa phương: Chính quyền địa phương được quy định tại Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2019. Chính quyền địa phương ở nước ta được tổ chức ở các ĐVHC, gồm: Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh), huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp huyện); xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) và ĐVHC - kinh tế đặc biệt, phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, ĐVHC - kinh tế đặc biệt. Khi nói đến chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương là nói đến vị trí, chức năng giữa bộ máy cơ quan nhà nước ở Trung ương với bộ 11 e máy cơ quan chính quyền địa phương.
Bộ máy chính quyền địa phương vừa là một hình thức tổ chức thể hiện quyền lực nhà nước là thống nhất ở địa phương, vừa là hình thức tổ chức các cộng đồng dân cư trong mỗi cấp hành chính - lãnh thổ. Như vậy, xét về tính chất của chính quyền địa phương được nhìn nhận theo hai phương diện có gắn bó với nhau. Chính quyền địa phương với ý nghĩa là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, tức là trong quan hệ quyền lực của nhà nước thống nhất, chính quyền địa phương là một bộ phận trong một hệ thống cơ quan nhà nước. Chính quyền cấp tỉnh là cấp chính quyền cao nhất của chính quyền địa phương.
Chính quyền cấp tỉnh có nhiệm vụ, quyền hạn: Tổ chức và thi hành Hiến pháp, pháp luật trên địa bàn tỉnh; quyết định những vấn đề của tỉnh trong phạm vi được phân quyền, phân cấp theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các quy định pháp luật có liên quan; thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương phân cấp, ủy quyền; kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở các ĐVHC trên địa bàn; chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước cấp trên về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở tỉnh; phối hợp với các cơ quan nhà nước ở trung ương, các địa phương thúc đẩy liên kết vùng, thực hiện quy hoạch vùng, bảo đảm tính thống nhất của nền kinh tế quốc dân; quyết định và thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy động nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn [22]. Chính quyền địa phương cấp huyện là ĐVHC trung gian nằm giữa cấp tỉnh và cấp xã. Chính quyền địa phương cấp huyện chịu sự quản lý nhà nước trực tiếp của chính quyền địa phương cấp tỉnh và trực tiếp quản lý nhà nước đối với chính quyền địa phương cấp xã. 12 e Chính quyền cấp xã là cấp trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cụ thể về quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực ở cơ sở, là cầu nối trực tiếp giữa Nhà nước và nhân dân, xử lý trực tiếp, kịp thời những yêu cầu hàng ngày của nhân dân.