mở đầu người ta đưa ra mô hình điện tích để giải thích hiện tượng khi cọ sát hổ phách vào len dạ thì hút được các vật nhẹ như mẫu giấy, lông chim. Năm 1785, Coulomb đã đưa ra mô hình điện tích điểm, đó là những hạt mang điện rất nhỏ so với khoảng cách giữa chúng. Và từ kết quả thực nghiệm, Coulomb đã nêu thành định luật mang tên ông. Như vậy, mô hình điện tích này ngày được nâng lên.
Khi đến bài thuyết điện tử thì có nhiều khái niệm như electron, ion âm,.và một số đại lượng đặc trưng cho điện tích như; điện trường, cường độ điện trường,.cũng được đưa ra. Nếu không làm rõ bản chất mô hình của các khái niệm điện tích, cấu trúc nguyên tử mà trình bày định luật Coulomb như SGK (như là kết quả có được từ nghiên cứu thực nghiệm tương tác giữa các điện tích điểm) S272: “Cà Haijuh Bain Mai “Thang 10 làm học sinh nghĩ rằng định luật này cũng được thiết lập như nhiều định luật thực nghiệm khác: đo điện tích, đo khoảng cách giữa chúng và rút ra định luật. Điều đó sẽ dẫn học sinh đến những khó khăn về mặt nhận thức khi tiếp tục nghiên cứu mô hình này (điện tích, điện trường, công của lực điện trường,. Như chúng ta biết là thuyết động học phân tử là một trong những thuyết vật lý ra đời sớm nhất.
Nó kế thừa quan điểm về cấu tạo vật chất và là kết quả của cuộc tranh luận kéo dài nhiều thế kỷ giữa những tư tưởng đối lập nhau về bản chất nhiệt, Thuyết trình bày theo sách giáo khoa như vậy, khi học sinh tiếp nhận kiến thức sẽ gặp những khó khăn sau: + Học sinh sẽ đánh đồng thực tại và mô hình, coi các kiến thức có trên cơ sở nghiên cứu mô hình là những kiến thức hoàn toàn đúng, mô tả toàn vẹn tuyệt đối đặc điểm, tính chất, quy luật biến đổi bên trong của sự vật, hiện tượng. Học sinh nghĩ mô hình động học phân tử là sự phản ánh toàn vẹn, tuyệt đối thế giới nội tại của vật chất ( lầm lẫn giữa mô hình - sản phẩm của sự sáng tạo của con người, với thực tại khách quan - tổn tại độc lập với ý thức con người). Bởi do nghĩ rằng mô hình là sự mô tả tuyệt đối thực tại nên học sinh tiến hành hoạt động nhận thức mô hình như hoạt động nhận thức đối với một thực tại khách quan có thể nếu biết (sự lẫn lộn giữa kết quả nhận thức có được bởi tư duy quy nạp và tư duy diễn dịch). Điều này gây khó khăn cho việc tiếp nhận các kiến thức thuộc thuyết và cản trở việc phát triển tư duy của học sinh (nhất là tư duy trừu tượng, khái quat.
Các nhà khoa học đều công nhận tác dụng lớn lao của phương pháp mô hình nhưng đồng thời cũng nhấn mạnh tính gần đúng, tính giả định, tính tạm thời của nó. S1⁄224: Li Huijnh Kain Mai Thang // Lugn van tốt ; TS. Le Thanh Các mô hình tuy là công cu để con người tìm hiểu thé giới khách quan nhưng không thể thay thế hoàn toàn hiện thực khách quan được. Do đó không nên giới thiệu mô hình như hình ảnh đích thực, một sự mô tả toàn vẹn thực tại ( sách giáo khoa : vật chất được cấu tạo từ.; nguyên tử bao gồm.; dòng điện là.) + Mô hình chỉ phản ánh một số thuộc tính bản chất của đối tượng vật chất nên một đối tượng có thể có nhiều mô hình đại diện cho nó.
Do đó khi gặp nhiều mô hình cho một đối tượng học sinh không biết cái nào đúng, xu hướng chung họ đem đồng nhất các mô hình. Mặt khác khi sử dụng mô hình, người ta thường gán cho nó một tầm khái quát rộng hơn. Và có khi vì quá tin vào mô hình đã được xác lập mà người ta đi đến sự bảo thủ, không thừa nhận những sự kiện thực tế mới trái với mô hình. Vì quá tin vào mô hình cơ học Newton nên các nhà khoa học trải qua thời kỳ dần vặt và đấu tranh mới xác lập được những quan điểm lượng tử và tương đối tính là những mô hình mới phản ánh sâu sắc, đầy đủ hơn thế giới vật chất.
+ Đối với giáo viên sẽ gặp rất nhiều vấn để mà học sinh đặt ra do sự tin tưởng tuyệt đối vào mô hình và kiến thức thuộc thuyết. Quá trình hình thành thuyết vật lý ( trong khoa học ). Xuất hiện sự kiện mới - Sự ra đời của thuyết vật lý thông thường bắt đầu từ khi xuất hiện những sự kiện mới không giải thích được bằng những kiến thức, kinh nghiệm đã có. Những sự kiện đó mâu thuẫn với đặc điểm của thuyết cũ.
Hình thành vấn để nhận thức - Mâu thuẫn này được các nhà bác học phân tích, kiểm tra kỷ lưỡng và bổ sung những sự kiện mới. Từ đó xuất hiện vấn để nhận thức mới. Đó là những câu hỏi về nguyên nhân, bản chất của hiện tượng nghiên cứu không thể trả lời nó bằng cách quan sát trực tiếp đối tượng. Hình thành giả thuyết - Bằng quan sát thực nghiệm, người ta xác định được một tập hợp những tính chất của đối tượng nghiên cứu, làm cơ sở để xây dụng mô hình.
Thông thường do kết quả của sự tương tự, người ta đi đến một hình dung sơ S722. Cá Haujnh Rudin Mai Trang 12 van tốt nghi, D: TS. Le Thank Théo bộ về sự vật, hiện tượng cẩn nghiên cứu, tức là đi đến một mô hình sơ bộ, chưa day đủ. Trong giai đoạn này, trí tưởng tượng và trực giác giữ vai trò quan trọng.
Nhờ có trí tưởng tượng và trực giác, người ta mới trừu xuất những tính chất và những mối quan hệ thứ yếu của đối tương nghiên cứu, thay nó bằng mô hình chỉ mang tính chất và những mối quan hệ chính mà ta phải quan tam. Mô hình lúc ban đầu mới chỉ có trong óc người nghiên cứu. Nó trở thành mẫu dua vào đó nhà nghiên cứu xây dựng những mô hình thật ( nếu nhà nghiên cứu xây dùng phương pháp mô hình vật chất ). Trong trường hợp mô hình lý tưởng thì người ta đem đối chiếu trong óc mô hình với những sự vật, những hiện tượng mà người ta đã quen biết.
Chẳng hạn như trong thuyết động học phân tử chất khí, người ta đã trừu xuất những chỉ tiết vé cấu trúc của phân tử chất khí, chỉ còn giữ lại những đặc điểm về mặt động học của các phân tử và thay thế những phân tử khí bằng những hạt. Những hạt này giống quả cầu va chạm tuyệt đối đàn hồi mà ta đã biết rõ quy luật chi phối chúng. Những mô hình này nhằm giải thích sơ bộ nhưng có sở cơ chế của hiện tượng. Mô hình được xây dựng nhờ phương pháp suy luận logic, từ sự tương tự của hiện tượng cẩn nghiên cứu với hiện tượng đã biết và phương pháp mô hình hóa.
Mô hình được xây dựng này mang tính giả thuyết. Sau khi xây dựng mô hình, người ta áp dụng những phương pháp lý thuyết hoặc thực nghiệm khác nhau tác động trên mô hình và thu được thông tin mới. Tưởng tượng các hành vi của mô hình, cụ thể hóa bằng ngôn ngữ toán học, tìm các các đại lượng đặc trưng cho mô hình, xây dựng mối quan hệ giữa các đại lượng mới và đại lượng đã biết nhằm mô tả các hành vi của mô hình, Đối với mô hình vật chất thì người ta làm thí nghiệm trên mô hình. Còn đối với mô hình lý tưởng thì tiến hành thao tác tư duy lý thuyết trên mô hình trong óc tức là áp dụng những phương pháp tính hay những phép suy luận logic trên các ký hiệu.
eee SUTH: Li Hanh Latin Mai hang /2 Legs cau tối nghiệp GORD: FS. Cà CHÍ Thanh Chắc Người ta coi công việc này như làm một thí nghiệm đặc biệt, gọi là thí nghiệm tưởng tượng thuần túy. Thí nghiệm tưởng tượng tuy không có thật nhưng có vai trò rất lớn trong khoa học. Hệ quả rút ra từ suy luận và thí nghiệm tưởng tượng phải được chuyển về đối tượng nghiên cứu để phán định xem mô hình có phù hợp với đối tượng nghiên cứu hay không.
Nếu thực nghiệm kiểm chứng phù hợp với hệ quả được tiên đoán thì mô hình được chấp nhận đồng thời kết quả thực nghiệm có thể đưa đến các định luật, quy tắc,. thực nghiệm mới. Còn ngược lại thì phải điểu chỉnh mô hình hoặc loại bỏ và cẩn thiết phải xây đựng một mô hình khác. Quá trình nhận thức được lập lại.
Ví dụ : + Như mô hình cấu tạo phân tử của vật chất là mô hình lý tưởng , khi đem áp dụng vào khí thực có nhiều sai lệch, phải sửa thành mô hình khí thực. + Mô hình mẫu hành tỉnh nguyên tử của Rutherford mặc di giúp ta giải thích nhiều hiện tượng nhưng lại mâu thuẫn với kết quả nghiên cứu hiện tượng bức xạ nguyên tử và Bohr đã chỉnh sửa mô hình đó. Khi mô hình được xác lập, các khái niệm, đại lượng, định luật lý thuyết là kết quả của quá trình nghiên cứu mô hình (quá trình hình thành thuyết) trở thành nội dung (hạt nhân) của thuyết. Và chúng được sử dụng như những cơ sở để giải thích các hiện tượng khác hoặc để xây dựng các kiến thức (mặc dù chúng là kết quả của quá trình tư duy lý thuyết).
Từ đó, chúng ta có thể tóm tắt quá trình hình thành thuyết theo sơ đổ sau: S122. Li Hanh Guin Mai rang 14 ode tél n TS. Le Thanh Théo -Su vật , hiện tượng trong tự nhiên - Sự kiện thực nghiệm Vấn dé nhận thức ( Mô hình giả thuyết ) Nghiên cứu mô hình , xây dựng các đại lượng đặc trưng cho mô hình và các quy luật biến đổi của nó Các kết quả nghiên cứu trên mô hình Hệ quả (xảy ra trên đối tượng) Thí nghiệm kiểm chứng hệ quả Thuyết vật lý - Mô hình được xác nhận - Các khái niệm ,đại luật lý thuyết S174. Li Hujnh Lain Mai hang 1S Có thể đưa ra một trật tư giới thiệu thuyết động học phân tử - Đưa ra một số sự kiện, hiện tượng trong tự nhiên như sự khuếch tán, sự hòa trộn của các chất rắn và các chất lỏng.
- Đưa ra những giả thuyết mới về cấu trúc vật chất + Tính gián đoạn —„ Khái niệm hạt ——» Khái niệm nguyên tử —+ Phân tử. + Tính chuyển động hỗn loạn không ngừng của phân tử. + Tính tương tác giữa các phân tử. - Đưa ra những thực nghiệm kiểm chứng các suy luận trên + Các định luật nhiệt.
+ Phương trình trạng thái. + Các ứng dụng kỹ thuật vào thuyết.