CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 1. Khái niệm về KTQT KTQT là một bộ phận cấu thành trong hệ thống kế toán và là công cụ quản lý không thể thiếu đối với các tổ chức, hoạt động. Các tác giả đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về KTQT, cụ thể như sau: Theo GS.Kaplan, trường Đại học Harvard Business School (HBS), trường phái KTQT của Mỹ, “KTQT là một bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong các tổ chức mà nhà quản trị dựa vào đó để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức”. Theo quan điểm này, KTQT là công cụ quan trọng trong việc tổ chức xây dựng các dự toán, hoạch định các chính sách và kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức.BOUQUIN Đại học Paris – Dauphin, trường phái KTQT của Pháp, “KTQT là một hệ thống thông tin định lượng cung cấp cho các nhà quản trị đưa ra quyết định điều hành các tổ chức nhằm đạt hiệu quả cao”.
Theo quan điểm này, KTQT là công cụ dùng để cung cấp thông tin, các nhà quản trị căn cứ vào thông tin này để đưa ra các quyết định điều hành nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao cho tổ chức. Theo định nghĩa của Hiệp hội kế toán viên quản trị Hoa kỳ: “KTQT là quá trình nhận diện, đo lường, tổng hợp, phân tích, soạn thảo, diễn giải và truyền đạt thông tin được nhà quản trị sử dụng để lập kế hoạch, đánh giá và kiểm tra trong nội bộ tổ chức và để đảm bảo việc sử dụng hợp lý và có trách nhiệm đối với các nguồn lực của tổ chức đó.” Theo luật kế toán Việt Nam: “KTQT là việc thu thập, xử lý, tổng hợp và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”. Tóm lại, KTQT là một phân hệ trong hệ thống kế toán với mục đích chủ yếu là cung cấp thông tin cho các nhà quản trị để thực hiện chức năng quản trị doanh nghiệp từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá và ra quyết định. Lịch sử hình thành và phát triển của KTQT LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Trên thế giới Về sự ra đời của KTQT thì có nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng KTQT ra đời từ những năm đầu thế kỉ 19, nhưng cũng có ý kiến cho rằng KTQT mới ra đời từ những năm 50 của thế kỉ 20. Kaplan và Anthony A.Atkinson, KTQT ra đời ở Mỹ từ những năm đầu của thế kỉ 19. Xuất phát từ sự lớn mạnh về quy mô, sự phức tạp trong hoạt động và áp lực cạnh tranh, KTQT được áp dụng trước tiên là trong hệ thống các nhà máy dệt ở Lowell (1814), sau đó là ngành đường sắt (1840), ngành luyện kim (1872).
Tuy nhiên các kỹ thuật KTQT lúc này chỉ chú trọng vào việc phát triển các phương pháp xác định chi phí phục vụ cho mục tiêu đánh giá tài sản và đo lường lợi nhuận.Hilton thì trước những năm 1950 của thế kỉ 20 chưa có khái niệm về KTQT mà trong giai đoạn này trọng tâm là kế toán chi phí. Mãi đến những năm 1950 thì KTQT mới ra đời và kể từ thời điểm này trở đi mới xuất hiện khái niệm KTQT, một bộ phận kế toán cung cấp thông tin cho các nhà quản trị hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức. Theo IFAC (2002), quá trình phát triển của KTQT diễn ra theo 4 giai đoạn sau: - Giai đoạn 1 – trước những năm 1950 đến năm 1965, trọng tâm của KTQT ở giai đoạn này là xác định chi phí và kiểm soát tài chính thông qua việc sử dụng các kỹ thuật dự toán và kế toán chi phí. Các hoạt động KTQT trong giai đoạn chỉ mang tính nghiệp vụ, kỹ thuật.
- Giai đoạn 2 – từ năm 1965 đến 1985, trọng tâm của KTQT là lợi nhuận. KTQT lúc này phải cung cấp thông tin cho hoạt động lập kế hoạch và kiểm soát của nhà quản trị thông qua việc sử dụng các kỹ thuật như phân tích các quyết định; thiết kế và vận hành hệ thống kế toán trách nhiệm nhằm thu thập, xử lý và cung cấp những thông tin cần thiết cho việc đánh giá trách nhiệm quản lý. Vị trí của KTQT trong tổ chức lúc này đã được nâng lên một bậc, từ chức năng nghiệp vụ chuyển thành hoạt động với chức năng tham mưu, báo cáo cho các nhà quản trị. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Giai đoạn 3 – từ năm 1985 đến năm 1995, KTQT tập trung cắt giảm hao phí nguồn lực sử dụng trong các quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua chiến lược quản trị chi phí.
Kỹ thuật kế toán được phát triển trong giai đoạn này là phân tích các quá trình và quản lý chi phí. - Giai đoạn 4 – từ 1995 đến nay, trọng tâm của KTQT là quản trị nguồn lực và tạo ra giá trị bằng cách sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Kỹ thuật KTQT tập trung vào việc phân tích các yếu tố giá trị khách hàng, giá trị cổ đông và cải cách tổ chức. Tóm lại, quá trình phát triển của KTQT được ghi nhận theo 4 giai đoạn nhưng thực ra sự phát triển của nó có sự chuyển hóa và hoàn thiện dần từ giai đoạn này đến giai đoạn khác.
Mỗi quá trình của sự phát triển thể hiện sự đáp ứng của kế toán đối với yêu cầu quản trị trong môi trường mới. Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, KTQT đã không ngừng hoàn thiện và phát triển, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc cung cấp thông tin hỗ trợ các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định và trở thành một bộ phận không thể thiếu trong quá trình quản trị hiện đại. Ở Việt Nam Hệ thống kế toán ở Việt nam gắn liền với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và chính vì vậy đã tạo nên sự chuyển biến hệ thống kế toán, KTQT ở Việt Nam với những đặc trừng khác nhau qua 3 giai đoạn: - Giai đoạn trước năm 1986, nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp do đó mục đích của hệ thống kế toán chủ yếu là cung cấp thông tin kinh tế cho Nhà nước kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế, tài chính của đơn vị. Chính vì vậy chỉ có duy nhất một phận kế toán với các nội dung công việc của kế toán tài chính.
- Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1991, Nhà nước tiến hành công cuộc đổi mới cơ chế kinh tế, thiết lập và tạo dựng nền kinh tế thị trường có sự quản lý, kiểm soát của Nhà nước theo định hướng XHCN. Và chính sự chuyển biến này đã làm ảnh hưởng đến hệ thống kế toán. Lúc này, nó không chỉ cung cấp thông tinh kinh tế, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 tài chính để các cơ quan chức năng kiểm tra, giám sát mà còn có các báo cáo về chi phí, giá thành sản phẩm, các yếu tố làm tăng, giảm giá thành… Những năm đầu 1990 KTQT được đưa vào giảng dạy tại trường ĐHKT Tp.Hồ Chí Minh. - Giai đoạn từ năm 1991 đến nay Ngày 17/6/2003 Luật kế toán Việt Nam chính thức được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam thông qua, trong đó đã có đề cập đến KTQT.
Đến ngày 12/6/2006, Bộ tài chính ban hành Thông tư số 53/2006/TT-BTC hướng dẫn áp dụng KTQT trong doanh nghiệp. Nhưng trên thực tế, KTQT đã xuất hiện ẩn trong kế toán tài chính (kế toán chi phí và tính giá thành, một số lĩnh vực kế toán chi tiết về hàng tồn kho, bán hàng, chi phí,…) trong doanh nghiệp và ngày nay, trong các doanh nghiệp việt nam, KTQT chỉ là bước khởi điểm, chưa có quan điểm rõ ràng, rời rạc, cục bộ. Vai trò của KTQT Vai trò của KTQT được thể hiện rõ ở việc cung cấp thông tin để thực hiện các chức năng của nhà quản trị như sau: - Với chức năng hoạch định thì KTQT cung cấp thông tin nhằm giúp cho nhà quản trị xác định mục tiêu của tổ chức và xây dựng các kế hoạch ngắn hạn, dài hạn để đạt được mục tiêu. Chẳng hạn như các thông tin về tình hình tài chính, tình hình hoạt động của đơn vị, của thủ cạnh tranh, nhu cầu của thị trường, thị hiếu khách hàng… - Với chức năng tổ chức – điều hành thì KTQT cung cấp thông tin cho nhà quản trị về các hoạt động trong doanh nghiệp như thông tin về giá thành, giá bán, khách hàng, lợi nhuận …Trên cơ sở các thông tin này nhà quản trị sẽ thấy được hiệu quả và chất lượng của các hoạt động đã và đang thực hiện để từ đó có thể điều chỉnh kịp thời và tổ chức lại hoạt động cho phù hợp.
- Với chức năng kiểm soát thì KTQT cung cấp các thông tin về tình hình thực tế, chênh lệch giữa thực tế với kế hoạch của từng bộ phận trong doanh nghiệp, giúp cho nhà quản trị kiểm soát được việc thực hiện kế hoạch để phân tích và điều chỉnh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 kịp thời cũng như đưa ra các biện pháp nhằm đảm bảo tiến độ kế hoạch, nâng cao hiệu quả hoạt động trong tương lai. - Với chức năng ra quyết định thì KTQT thu thập, tổng hợp, phân tích, chọn lọc và cung cấp các thông tin liên quan đến các phương án kinh doanh nhằm giúp cho nhà quản trị ra quyết định lựa chọn phương án tối ưu nhất. Tùy thuộc vào các loại quyết định mà KTQT cung cấp thông tin cho phù hợp để phục vụ cho việc ra các quyết định đó. Chẳng hạn như đối với quyết định có tính chiến lược của nhà quản trị cấp cao, thông tin do KTQT cung cấp phải hỗ trợ cho nhà quản trị xác định các mục tiêu và đánh giá các mục tiêu đó có thể thực hiện được trên thực tế hay không.
Đối với quyết định có tính chiến thuật của nhà quản trị cấp trung gian, KTQT cung cấp thông tin giúp nhà quản trị ra quyết định về sử dụng các nguồn lực của tổ chức và giám sát các nguồn lực đó đã và đang được sử dụng như thế nào. Đối với quyết định mang tính tác nghiệp của nhà quản trị cấp cơ sở, KTQT cung cấp thông tin giúp họ điều hành, thực thi các nhiệm vụ được giao và kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện ở bộ phận mình. So sánh giữa kế toán tài chính và KTQT 1.