CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG DOANH NGHIỆP. Sự cần thiết phải tổ chức kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp xây dựng. Khái niệm, vị trí vai trò của nguyên vật liệu. Trong các doanh nghiệp xây dựng, nguyên vật liệu là những đối tượng lao động chủ yếu, nó được thể hiện dưới dạng vật hoá là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, là cơ sở vật chất cấu thành nên thực thể các công trình xây dựng.
Nguyên liệu vật liệu trong doanh nghiệp xây dựng là những đối tượng lao động mua ngoài hoặc tự chế dùng cho mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong quá trình tham gia vào sản xuất kinh doanh, nguyên vật liệu chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất nhất định, nguyên vật liệu bị tiêu hao toàn bộ và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nguyên vật liệu được chuyển toàn bộ một lần vào chi phí sản xuất và tính vào giá thành sản phẩm mới làm ra. NVL là một bộ phận trọng yếu của tư liệu SX, là đối tượng LĐ đã qua sự tác động của con người. Trong DN xây dựng, chi phí về NVL thường chiếm tỷ trọng rất lớn( khoảng 60-70% trong tổng giá trị công trình).
Do vậy, NVL có vị trí, vai trò rất quan trọng đối với hoạt động SXKD của DN xây dựng. Nếu thiếu NVL thì không thể tiến hành được quá trình thi công XD các công trình, không đảm bảo được tiến độ thi công. Thông qua quá trình thi công XD, kế toán NVL có thể đánh giá những khoản chi phí chưa hợp lý, lãng phí hay tiết kiệm, những khoản chi phí được tính vào giá thành công trình. Bởi vậy, DN cần tổ chức kế toán quản lý chặt chẽ NVL ở tất cả các khâu từ quá trình thu mua, bảo quản, dự trữ và sử dụng NVL nhằm hạ thấp chi phí SX xuống một mức nhất định nào đó, giảm mức tiêu hao NVL trong 12 SV: Lỗ Thị Thu Thủy Lớp: CQ50/ 21.04 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Học viện Tài Chính Luận văn Tốt nghiệp xây dựng, đó cũng là cơ sở để giảm giá thành công trình.
Qua đó, ta có thể nói rằng NVL có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng và không thể thiếu được trong quá trình SXKD nói chung và quá trình thi công XD các công trình, hạng mục công trình nói riêng. Đặc điểm, yêu cầu quản lý NVL. Đối với DN xây dựng việc quản lý NVL một cách khoa học là một sự đòi hỏi cấp bách. Hiện nay, NVL không còn quá khan hiếm, không còn phải dự trữ quá nhiều như trước, nhưng vấn đề đặt ra là phải cung cấp đầy đủ, kịp thời để đảm bảo cho quá trình thi công các công trình diễn ra đúng tiến độ trong hợp đồng xây dựng đã ký kết.
chính vì lý do đó nên ta có thể xem xét quản lý NVL trên các khía cạnh sau: - Quản lý thu mua NVL sao cho hiệu quả theo đúng yêu cầu sử dụng NVL của các bộ phận xây dựng, đồng thời tổ chức tốt khâu vận chuyển để tránh thất thoát, hỏng NVL. - Tổ chức tốt khâu bảo quản NVL tại Kho của công ty cũng như kho tại các công trình để tránh tình trạng mất mát, hỏng hóc NVL gây lãng phí cho DN XD. - Do đặc điểm của NVL là chỉ tham gia vào một chu kỳ SXKD và bị tiêu hao toàn bộ trong quá trình đó. Hơn nữa chúng lại thường xuyên biến động về giá cả, chất lượng nên các doanh nghiệp cần phải xây dựng định mức tồn kho để đảm bảo tốt nhu cầu sử dụng NVL của các đội thi công.
Nhiệm vụ của kế toán. Kế toán NVL trong doanh nghiệp phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: - Ghi chép phản ánh đầy đủ kịp thời số hiện có và tình hình luân chuyển của nguyên vật liệu cả về mặt giá trị và hiện vật. Tính toán đúng đắn trị giá vốn thực tế 13 SV: Lỗ Thị Thu Thủy Lớp: CQ50/ 21.04 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Học viện Tài Chính Luận văn Tốt nghiệp của nguyên vật liệu nhập, xuất kho nhằm cung cấp thông tin kịp thời chính xác phục vụ cho yêu cầu lập báo cáo tài chính và báo cáo quản trị của doanh nghiệp. - Kiểm tra tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch, phương pháp hạch toán nguyên vật liệu.
Đồng thời hướng dẫn các bộ phận trong doanh nghiệp thực hiện đầy đủ các chế độ hạch toán ban đầu về nguyên vật liệu. Phải hạch toán đúng chế độ, đúng phương pháp quy định để đảm bảo sự thống nhất trong tổ chức kế toán NVL. - Kiểm tra việc chấp hành chế độ bảo quản, dự trữ và sử dụng NVL. Từ đó phát hiện, ngăn ngừa và đề xuất những biện pháp xử lý nguyên vật liệu thừa thiếu, ứ đọng, kém hoặc mất phẩm chất cho ban quản trị doanh nghiệp.
Giúp cho việc tính toán, xác định chính xác số lượng và giá trị nguyên vật liệu thực tế đưa vào từng công trình. Phân bổ chính xác nguyên vật liệu đã tiêu hao vào từng đối tượng sử dụng để từ đó giúp cho việc tính toán giá thành các công trình được chính xác. - Tổ chức kế toán phù hợp với phương pháp kế toán hàng tồn kho, cung cấp thông tin cho việc lập báo cáo tài chính và phân tích hoạt động kinh doanh của DN. - Tổ chức ghi chép, phản ánh tổng hợp số liệu về tình hình thu mua, vận chuyển bảo quản, đánh giá phân loại tình hình nhập xuất và bảo quản nguyên vật liệu.
Từ đó đáp ứng được nhu cầu quản lý thống nhất của Nhà nước cũng như yêu cầu quản lý của doanh nghiệp trong việc tính trị giá vốn thực tế của nguyên vật liệu đã thu mua và nhập kho đồng thời kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu mua vật tư về số lượng chủng loại, giá cả và thời hạn cung cấp nguyên vật liệu một cách đầy đủ, kịp thời. Xuất phát từ nhiệm vụ của kế toán NVL nêu trên, ta thấy vai trò của tổ chức kế toán NVL trong DN xây dựng là vô cùng quan trọng trong công tác quản lý NVL, giúp cho công ty tiết kiệm chi phí trong sản xuất, nâng cao lợi nhuận, giá trị 14 SV: Lỗ Thị Thu Thủy Lớp: CQ50/ 21.04 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Học viện Tài Chính Luận văn Tốt nghiệp của DN. Chính vì vậy tổ chức kế toán NVL là vô cùng quan trọng và cần thiết trong DN xây dựng. Tổ chức kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp XD.
Lý thuyết về loại hình kế toán và nguyên tắc kế toán chi phối tới tổ chức kế toán NVL. Các loại vật tư thuộc hàng tồn kho của doanh nghiệp, do về nguyên tắc đánh giá vật tư cũng phải tuân thủ theo nguyên tắc đánh giá hàng tồn kho. Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 “ Hàng tồn kho”, hàng tồn kho của doanh nghiệp được đánh giá theo giá gốc ( Trị giá vốn thực tế) và trong trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì phải tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được. ❖ Các giả định kế toán: Giả định kế toán: giả định hoạt động liên tục, giả định đơn vị tiền tệ ổn định, giả định kỳ kế toán.
Giả định hoạt động liên tục cho rằng đơn vị kế toán hoạt động liên tục bình thường trong một thời gian dài, không xác định. Với giả định đó vấn đề bán, tái đầu tư tài sản hoặc các khoản nợ của doanh nghiệp không được đưa ra một cách thường xuyên. Vì vậy, không cần phải sử dụng giá thị trường để đo lường các đối tượng này. Trong điều kiện đó giá gốc là cơ sở tính giá phù hợp hơn.
Giả định đơn vị tiền tệ ổn đinh: Đơn vị tiền tệ có thể biến đổi liên tục do ảnh hưởng của lạm phát, lãi suất. Để làm tiền đề cho việc sử dụng giá gốc thì đơn vị tiền tệ được giả định là có giá trị ổn định. Tức là yếu tố lạm phát, lãi suất ảnh hưởng không trọng yếu tới việc sử dụng thông tin tài chính. Giả định này đảm bảo thông tin tài chính trên cơ sở giá gốc vẫn phản ánh hợp lý tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của đơn vị kế toán, không có sự khác biệt lớn so với cơ sở tính giá khác.
❖ Các nguyên tắc kế toán: 15 SV: Lỗ Thị Thu Thủy Lớp: CQ50/ 21.04 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Học viện Tài Chính Luận văn Tốt nghiệp Cơ sở dồn tích: Mỗi nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn, doanh thu, chi phí phải được ghi vào sổ kế toán tại thời điểm phát sinh thực tế, mà không căn cứ vào thời điểm thu chi tiền hoặc tương đương tiền. Nguyên tắc giá gốc: là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của kế toán. Nguyên tắc này đòi hỏi tất cả các loại tài sản, vật tư, hàng hoá, các khoản công nợ, chi phí,. phải được ghi chép, phản ánh theo giá gốc của chúng, tức là theo số tiền mà đơn vị bỏ ra để có được những tài sản đó.
Giá gốc của tài sản được tính theo số tiền hoặc tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận. Nguyên tắc giá gốc có mối quan hệ chặt chẽ với khái niệm thước đo tiền tệ và giả thiết hoạt động liên tục. Vì vậy nguyên tắc giá gốc chi phối tới việc xác định giá trị của NVL. Giữa nguyên tắc giá gốc và giả định doanh nghiệp hoạt động liên tục có mối quan hệ nhất định chỉ khi chúng ta thực thi giả định hoạt động liên tục thì việc áp dụng nguyên tắc giá gốc mới được thực hiện.
Nếu doanh nghiệp không còn hoạt động bình thường mà đang rơi vào tình trạng phá sản thì lúc này nguyên tắc giá gốc không còn được vận dụng nữa. Lúc này tất cả tài sản của doanh nghiệp được đem ra bán như vậy tài sản của doanh nghiệp được đánh giá và kế toán theo giá thị trường vào thời điểm bán. Như vậy giá thị trường của tài sản của doanh nghiệp lúc này không còn bằng giá gốc của các tài sản mà doanh nghiệp ghi nhận lúc ban đầu nữa. Ngoài ra nguyên tắc giá thị trường còn ảnh hưởng tới việc tính giá các đối tượng kế toán.