Chương 1: Cơ sở lý luận chung về tổ chức kế toán trong các đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán trong các trong các trường tiểu học trên địa bàn huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội. Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán trong các trường tiểu học trên địa bàn huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội. -6- CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 1.
Khái quát về đặc điểm hoạt động của đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo 1. Khái niệm, vị trí, vai trò của đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo với quá trình phát triển kinh tế - xã hội 1. Đặc điểm tổ chức hoạt động của các đơn vị SNGD&ĐT 1. Nguyên tắc tổ chức kế toán trong các đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo công lập 1.
Nguyên tắc tổ chức kế toán trong các đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo công lập 1. Các yếu tố ảnh hưởng tới tổ chức kế toán trong các đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo công lập 1. Nội dung tổ chức kế toán trong các đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo 1. Tổ chức bộ máy kế toán trong các đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo 1.
Tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo 1. Tổ chức kiểm tra kế toán trong các đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo 1. Tổ chức công tác kế toán nguồn kinh phí trong các đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo 1. Vai trò cơ bản của công tác kế toán nguồn kinh phí trong các đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo 1.
Yêu cầu và nội dung tổ chức công tác kế toán nguồn kinh phí trong các đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo 1. Tổ chức kế toán tiếp nhận, sử dụng kinh phí và quyết toán kinh phí trong các đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo -7- CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KÉ TOÁN TRONG CÁC TRƢỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH TRÌ 2. Khái quát về các trƣờng tiểu học trên địa bàn huyện Thanh Trì 2. Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Thanh Trì ảnh hưởng đến giáo dục - đào tạo 2.
Tình hình phát triển giáo dục đào tạo ở huyện Thanh Trì 2. Cơ cấu tổ chức các trường tiểu học trên địa bàn huyện Thanh Trì 2. Mô hình và tổ chức bộ máy quản lý chi NSNN; cơ chế phân bổ, điều hành quyết toán NSNN tại các trường tiểu học trên địa bàn huyện Thanh Trì 2. Thực trạng tổ chức công tác kế toán trong các trƣờng tiểu học trên địa bàn huyện Thanh Trì 2.
Thực trạng tổ chức bộ máy kế toán trong các trường tiểu học trên địa bàn huyện Thanh Trì 2. Thực trạng tổ chức công tác kế toán trong các trường tiểu học trên địa bàn huyện Thanh Trì 2. Thực trạng tổ chức công tác kiểm tra kế toán trong các trường tiểu học trên địa bàn huyện Thanh Trì 2. Đánh giá chung về thực trạng tổ chức công tác kế toán trong các trƣờng tiểu học trên địa bàn huyện Thanh Trì thời gian qua 2.
Những kết quả đạt được 2. Những tồn tại 2. Nguyên nhân của những tồn tại CHƢƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KẾ TOÁN TRONG CÁC TRƢỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH TRÌ 3. Sự cần thiết và yêu cầu phải hoàn thiện tổ chức kế toán trong các trƣờng tiểu học trên địa bàn huyện Thanh Trì -8- 3.
Sự cần thiết phải hoàn thiện tổ chức kế toán trong các trường tiểu học trên địa bàn huyện Thanh Trì 3. Yêu cầu phải hoàn thiện tổ chức kế toán trong các trường tiểu học trên địa bàn huyện Thanh Trì 3. Định hƣớng phát triển của các trƣờng tiểu học trên địa bàn huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội 3. Các giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán trong các trƣờng tiểu học trên địa bàn huyện Thanh Trì 3.
Hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán 3. Hoàn thiện hệ thống chứng từ kế toán 3. Hoàn thiện việc vận dụng hệ thống tài khoản kế toán 3. Hoàn thiện hệ thống sổ kế toán 3.
Hoàn thiện công tác kiểm tra kế toán 3.6 Hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán và phân tích báo cáo 3. Điều kiện cơ bản thực hiện các giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán trong các trƣờng tiểu học trên địa bàn huyện Thanh Trì 3. Về phía Nhà nước 3. Về phía các trường KẾT LUẬN -9- CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 1.
Khái quát về đặc điểm hoạt động của đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo 1. Khái niệm và vai trò của đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo với quá trình phát triển kinh tế - xã hội Trong đời sống xã hội, giáo dục và đào tạo là lĩnh vực có vai trò quan trọng đối với mọi quốc gia, dân tộc ở mọi thời đại. Trong xu thế phát triển tri thức ngày nay, giáo dục - đào tạo được xem là chính sách, biện pháp quan trọng hàng đầu để phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam không phải là ngoại lệ. Theo Thông tư liên tịch số 47/2011/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 19 tháng 10 năm 2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo – Bộ Nội Vụ, đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo được hiểu là các cơ quan chuyên môn thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, bao gồm: mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục và đào tạo, tiêu chuẩn nhà giáo và tiêu chuẩn cán bộ quản lý giáo dục; tiêu chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị trường học và đồ chơi trẻ em; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ; bảo đảm chất lượng giáo dục và đào tạo.
Do hoạt động mang tính phục vụ để thực hiện các chức năng của nhà nước là chủ yếu nên nguồn kinh phí hoạt động của các đơn vị này chủ yếu do ngân sách nhà nước cấp. Ngoài ra, gắn với chức năng hoạt động, các đơn vị này được nhà nước cho phép thu để trang trải một phần hoặc toàn bộ chi phí (thường xuyên) không vì mục đích lợi nhuận Con người là nhân tố quyết định tới sự phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia, là chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hóa quốc gia. Đảng ta luôn xác định: Phát huy nguồn lực con người - 10 - làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh bền vững, nguồn nhân lực là khâu quyết định để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đưa đất nước ta trở thành một nước công nghiệp. Vì vậy, vấn đề phát triển giáo dục - đào tạo nói chung, đào tạo tiểu học nói riêng là vấn đề tất yếu, bức thiết đặt ra cho đất nước trong giai đoạn hiện nay.
Sự nghiệp giáo dục và đào tạo vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia: Thứ nhất, Giáo dục và đào tạo góp phần bảo vệ chế độ chính trị của mỗi quốc gia, dân tộc bởi giáo dục - đào tạo góp phần xây dựng đội ngũ lao động có trình độ cao làm giàu của cải vật chất cho xã hội đồng thời có bản lĩnh chính trị vững vàng, đủ sức đề kháng chống lại các cuộc “xâm lăng văn hóa” trong chính quá trình hội nhập quốc tế và toàn cầu. Thứ hai, Giáo dục - đào tạo cung cấp nguồn nhân lực có trình độ góp phần phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Ngành GD &ĐT đang tiến hành đẩy mạnh công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi, củng cố và nâng cao kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và THCS (Theo báo cáo giám sát toàn cầu năm 2018, tỷ lệ phổ cập giáo dục tại Việt Nam đã đạt 95%); chú trọng công tác phân luồng, tư vấn hướng nghiệp cho học sinh phổ thông; củng cố kết quả xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ theo hướng mở và bền vững, phù hợp với đặc điểm, nhu cầu của người học và thực tiễn của địa phương. Giáo dục - đào tạo nhằm phát huy năng lực nội sinh “đi tắt, đón đầu” rút ngắn thời gian công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Việt Nam khẳng định giáo dục - đào tạo cùng với khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu, là điều kiện phấn đấu để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp. Thứ ba, Giáo dục - đào tạo góp phần nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, xây dựng đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn, tay nghề cao ở mọi - 11 - quốc gia, dân tộc (theo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.77) Đào tạo nhân lực có trình độ cao góp phần quan trọng phát triển khoa học công nghệ là yếu tố quyết định của kinh tế tri thức. Trong nền kinh tế tri thức hiện nay, tri thức là sản phẩm của giáo dục và đào tạo, đồng thời là tài sản quý giá nhất của con người và xã hội. Sở hữu tri thức trở thành sở hữu quan trọng nhất được các nước thừa nhận và bảo hộ.
Nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia, dân tộc từ tài nguyên, sức lao động cơ bắp là chính chuyển sang nguồn lực con người có tri thức là cơ bản nhất. Nguồn lực con người có tri thức trở thành trung tâm của sự phát triển. Các yếu tố lợi thế so sánh có tính truyền thống như: vốn, tài nguyên và lao động giản đơn lùi xuống hàng thứ yếu so với thông tin và tri thức. Lực lượng sản xuất, yếu tố sản xuất đã thay đổi, việc ứng dụng các công nghệ tiến bộ, các dây chuyền sản xuất hiện đại đòi hỏi lực lượng lao động phải có tay nghề cao ngày càng cấp thiết.
Lúc này GD&ĐT đóng vai trò vô cùng quan trọng là cung cấp một đội ngũ lao động hùng mạnh, có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ để ứng dụng các thành quả của khoa học công nghệ vào sản xuất, làm tăng năng suất lao động, tạo ra ngày càng nhiều của cải cho xã hội, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.