CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Dạy học hiện đại ngày nay được hình thành từ nhiều quan điểm, trong đó nhà Tâm lý học lịch sử, L. Vgotxki cho rằng các chức năng tâm lý cao cấp xuất hiện trước hết ở mức độ liên nhân cách giữa các cá nhân, trước khi chúng tồn tại ở mức độ tâm lý bên trong, chính vì vậy theo ông, trong một lớp học, cần coi trọng sự khám phá có trợ giúp hơn là sự tự khám phá [8] Từ đó cần rút ra một nguyên tắc là dạy học cần tổ chức cho HS học tập với sự hỗ trợ, giúp đỡ của bạn học, học tập cùng nhau sẽ giúp HS lĩnh hội tri thức hiệu quả hơn là để HS tự khám phá.
Theo Jean Piaget (1896 – 1980) với thuyết mâu thuẫn nhận thức xã hội đã cho rằng: Trong khi tương tác cùng nhau, mâu thuẫn nhận thức xã hội xuất hiện đã tạo ra sự mất cân bằng về nhận thức giữa mọi người. Các cuộc tranh luận diễn ra liên tục và được giải quyết, trong suốt quá trình đó những lý lẽ và luận luận chưa đầy đủ dẽ được bổ sung hoàn thiện. Như vậy, học là một quá trình xã hội, trong đó con người liên tục đấu tranh giải quyết các mâu thuẫn nhận thức, chính vì vậy việc tạo điều kiện cho người học tranh luận trong làm việc nhóm là cơ sở để nâng cao nhận thức ở HS. Lý thuyết kiến tạo ra đời những năm 80 của thế kỉ XX cũng là cơ sở để hình thành nên lý luận dạy học hiện đại nói chung và dạy học theo nhóm nói riêng [8].
Nội dung thuyết này đề cập đến một số điểm nhưng chúng tôi đặc biệt lưu ý tới điểm thứ ba: Học là một quá trình mang tính xã hôi, văn hóa và liên nhân cách do vậy, học không chỉ chịu sự tác động của các tác nhân nhận thức mà còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố xã hội và sự tương tác giữa các cá nhân [13]; Học là quá trình con người thể hiện ra bên ngoài những đặc điểm 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tâm lý bên trong của mình, do vậy các hoạt động học tập phải trong mối quan hệ với các yếu tố xã hội và sự hợp tác giữa các cá nhân. Do đó, nhóm học tập, nơi mà các yếu tố xã hội kết hợp với sự hợp tác các cá nhân sẽ giúp HS nâng cao kết quả của quá trình học. Ở Việt Nam Dựa trên những nền tảng nghiên cứu của thế giới về dạy học hiện đại, theo Phạm Minh Hạc nhấn mạnh: “Nhà trường hiện đại ngày nay là nhà trường hoạt động, dùng phương pháp hoạt động…Thu hẹp sự cưỡng bức của nhà giáo thành sự hợp tác bậc cao [12] “Phương pháp giáo dục bằng hoạt động là dẫn dắt HS tự xây dựng công cụ làm trẻ thay đổi từ bên trong… Hoạt động cùng nhau, hoạt động hợp tác giữa thầy và trò, hoạt động hợp tác giữa trò và trò có một tác dụng lớn. Từ đó, có thể rút ra kết luận: “Cần thiết phải kết hợp hoạt động cá nhân với hoạt động nhóm”.
Quá trình dạy học cần tổ chức các dạng hoạt động học tập khác nhau cho HS; cần phải thay đổi phương thức cưỡng bức HS học tập bằng phương thức học tập làm việc cùng nhau. Theo Nguyễn Hữu Châu khái quát :học là quá trình cá nhân tự kiến tạo kiến thức cho mình nhưng đó là những kiến thức thông qua tương tác với các cá nhân khác, với xã hội và thực tiễn mà có [8]. Từ quan niệm về học, quan niệm về hoạt động dạy và phương pháp dạy học cũng thay đổi. Hoạt động dạy là hoạt động của GV nhằm tổ chức và hướng dẫn hoạt động học của người học, để họ tự khám phá và thực hiện nhiệm vụ học tập.
Cơ sở lý luận của đề tài 1. Nhóm và nhóm học tập Nhóm là tập hợp những cá thể từ hai người trở lên theo những nguyên tắc nhất định, có thể tác động lẫn nhau để cùng thực hiện một nhiệm vụ trong một thời gian xác định. Nhóm học tập được lập ra với mục đích đã được xác định rõ ràng chung cho cả nhóm, đó là việc học tập đạt kết quả cao hơn và hứng thú hơn khi học riêng lẻ. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhóm học tập có những đặc trưng sau: Là một đơn vị, một bộ phận của lớp học.
Hoạt động của nhóm được thống nhất với nhau bởi các thành viên cùng thực hiện một nhiệm vụ học tập, đây vừa là nguyên nhân vừa là điều kiện của nhóm học tập. Các thành viên trong nhóm không chỉ liên kết với nhau về mặt trách nhiệm mà còn những mối quan hệ tương tác về tình cảm, đạo đức, lối sống, vì điều đó nhóm học tập rất thuận tiện để người học hình thành và phát triển các năng lực chung cần thiết. Như vậy, nhóm học tập cũng là nơi diễn ra các quá trình xã hội, không chỉ đơn thuần là một đơn vị cấu thành nên lớp học mà còn là môi trường thuận lợi cho sự phát triển và hình thành nhân cách người học. Tính tích cực – tính tích cực trong học tập 1.
Tính tích cực Theo từ điển Tiếng việt [27] tính tích cực được hiểu là tính chủ động, hăng hái nhiệt tình với nhiệm vụ, với công việc, có những hoạt động nhằm tạo ra sự biến đổi thơ hướng phát triển, có tác dụng khẳng định, thúc đẩy sự phát triển.Kharlamop: “Tính tích cực là trạng thái hoạt động của HS, đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững tri thức” [8] Theo chúng tôi, tính tích cực có thể được xem như là một phẩm chất xã hội của con người. Là một thuộc tính nhân cách của cá nhân được đặc trưng bởi sự chi phối mạnh mẽ của các hoạt động đang diễn ra đối với dối tượng, tính trương lực của trạng thái bên trong chủ thể ở thời điểm hành động, tính quy định của mục đích của hành động đã được thông qua. Nó gắn liền với trạng thái hoạt động, là năng lực thể hiện sự nỗ lực cố gắng ở sự chủ động sáng tạo có ý thức tác động qua lại với môi trường của chủ thể. Tính tích cực 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bắt nguồn từ lợi ích nhu cầu của con người, được nảy sinh, hình thành và phát triển trong học tập.
Hình thành và phát triển tính tích cực là nhiệm vụ quan trọng và chủ yếu của giáo dục nhằm đào tạo ra những người có tự chủ, năng động, sáng tạo, phù hợp với yêu cầu của xã hội trong thời kì mới. Có thể xem tính tích cực như là một điều kiện đồng thời là kết quả của sự phát triển nhân cách HS trong quá trình phát triển giáo dục. Tính tích cực học tập Có nhiều quan điểm khác nhau về tính tích cực học tập: Theo Trần Bá Hoành cho rằng : tính tích cực học tập của người học biểu hiện ở sự khát khao khoa học, hay nêu thắc mắc, chủ động vận dụng sự tập trung chú ý, sự kiên trì vượt mọi khó khăn để đạt mục đích. Biểu hiện của tính tích cực học tập ở các mức độ khác nhau: tái hiện,tìm tòi sáng tạo [16].Kharlamop khẳng định: “Học tập là quá trình nhận thức tích cực” [8] ở đó tính tích cực không chỉ tồn tại như một trạng thái, một nét tính cách cụ thể mà nó còn là kết quả của quá trình tư duy.
Nhận thức tích cực là mục đích cần đạt được của quá trình dạy học và có tác dụng nâng cao không ngừng hiệu quả học tập của người học. Theo Lê Thị Xuân trong bài : “Phát huy tính tích cực của HS – sinh viên trong dạy học tóan ở các trường Cao đẳng sự phạm đã viết : “Tính tích cực trong hoạt động học tập về thực chất là tính tích cực trong nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Trong hoạt động học tập, nó diễn ra ở nhiều phương diện khác nhau: tri giác tài liệu, thông hiểu tài liệu, ghi nhớ, luyện tập vận dụng… và được thể hiện ở nhiều hình thức đa dạng phong phú”. Theo chúng tôi: “tính tích cực học tập là phẩm chất nhân cách của người học thể hiện ý thức tự giác của người học về mục đích học tập, thông qua đó người học huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý nhằm tổ chức và thực hiện hoạt động học tập có hiệu quả”.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tính tích cực học tập của người học biểu hiện ở nhận thức, thái độ, hành vi và kết quả học tập của người học. Năng lực hợp tác 1. Khái niệm năng lực Năng lực là một phạm vi trung tâm của tâm lý học và dã được nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một khái niệm nhất quán về năng lực.
Nhìn khái quát chúng ta thấy có 2 quan điểm chung về năng lực: Quan điểm thứ nhất: năng lực là một điều kiện tâm lý của cá nhân để hoàn thành có kết quả một hoạt động nào đó. Điển hình cho quan điểm này là N. Quan điểm thứ hai: năng lực là những thuộc tính của cá nhân gồm cả những thuộc tính tâm lý và cả những thuộc tính giải phẫu tâm lý. Điển hình cho quan điểm này là: A.
Khi nghiên cứu về năng lực, các tác giả Việt Nam cũng đã đưa ra những quan điểm khác nhau về năng lực. Theo Phạm Minh Hạc: năng lực là những đặc điểm tâm lý cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của hoạt động nhất định nào đó và là điều kiện để thực hiện hiệu quả hoạt động đó [13]. Từ những quan điểm trên, chúng tôi có thể định nghĩa năng lực như sau: Năng lực là tổ hợp của các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có hiệu quả. Cấu trúc năng lực Cấu trúc của năng lực gồm 3 thành tố Thành tố 1: hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo để tạo ra năng lực tương ứng với hoạt động.
Thành tố 2: Động cơ hứng thú, xu hướng hoạt động Thành tố 3: Hành động: là điều kiện để hình thành năng lực Trong ba thành tố trên, thành tố thứ 3 – năng lực, có vai trò quan trọng nhất 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.