Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục mầm non giữ vai trò là bậc học nền tảng nhằm đặt cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách của trẻ em về các mặt đức, trí, thể, mĩ và ngôn ngữ. Trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngành giáo dục mầm non đã và đang triển khai nhiều định hướng đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp chăm sóc giáo dục. Trọng tâm của tiến trình đổi mới này là quán triệt quan điểm giáo dục hiện đại: lấy trẻ em làm trung tâm và tổ chức các hoạt động giáo dục theo hướng tích hợp chủ đề. Trong chương trình giáo dục mầm non, hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học là một hoạt động thường xuyên, có ý nghĩa đặc biệt trong việc nuôi dưỡng tâm hồn, khơi dậy cảm xúc thẩm mĩ, rèn luyện phát âm, làm giàu vốn từ ngữ nghệ thuật và phát triển tư duy, đạo đức cho trẻ nhỏ.
Tại huyện Hoằng Hóa (tỉnh Thanh Hóa) – địa bàn đồng bằng ven biển với 12 km bờ biển, kinh tế dựa chủ yếu vào nông - lâm - ngư nghiệp (chiếm 55%) – hệ thống cơ sở vật chất, đời sống dân sinh và điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí còn không đồng đều. Những nét đặc thù về vị trí địa lí, điều kiện phòng học, trang thiết bị và nhận thức của phụ huynh tại các xã vùng biển đã tác động trực tiếp đến việc triển khai các phương pháp dạy học đổi mới. Việc tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học ở các trường mầm non khu vực ven biển huyện Hoằng Hóa vì thế xuất hiện những thuận lợi và khó khăn mang tính đặc thù. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả Nguyễn Thị Linh đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài: "Thực trạng tổ chức làm quen với tác phẩm văn học theo hướng tích hợp chủ đề cho trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường mầm non ven biển huyện Hoằng Hóa".
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là khảo sát, đánh giá thực trạng của việc tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học theo hướng tích hợp chủ đề cho trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường mầm non ven biển huyện Hoằng Hóa, từ đó đề xuất một số biện pháp sư phạm nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động này.
Khóa luận xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận liên quan đến việc tổ chức hoạt động văn học theo hướng tích hợp chủ đề cho trẻ 5 – 6 tuổi.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng của việc tổ chức hoạt động làm quen tác phẩm văn học theo hướng tích hợp chủ đề ở một số trường mầm non ven biển huyện Hoằng Hóa cho trẻ 5 – 6 tuổi; từ đó tìm ra những ưu điểm, hạn chế và xác định nguyên nhân của các vấn đề đó.
- Trên cơ sở kết quả khảo sát, đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả việc tổ chức hoạt động làm quen tác phẩm văn học theo hướng tích hợp chủ đề ở các trường mầm non ven biển huyện Hoằng Hóa cho trẻ 5 – 6 tuổi.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng việc tổ chức làm quen với tác phẩm văn học theo hướng tích hợp chủ đề cho trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường mầm non ven biển huyện Hoằng Hóa. Phạm vi nghiên cứu tập trung khảo sát các nhóm lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại ba trường mầm non thuộc ba xã vùng ven biển gồm: Trường Mầm non xã Hoằng Tiến, Trường Mầm non xã Hoằng Đông và Trường Mầm non xã Hoằng Phụ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về lịch sử vấn đề và cơ sở lí luận, khóa luận kế thừa và tham khảo các tài liệu chuyên ngành về phương pháp phát triển ngôn ngữ và tổ chức hoạt động văn học mầm non, tiêu biểu như: công trình "Phương pháp tổ chức hoạt động làm quen với tác phẩm văn học" của Hà Nguyễn Kim Giang; giáo trình "Giáo dục trẻ mẫu giáo qua truyện và thơ" của Nguyễn Thu Thủy (NXB Giáo dục, 1986); cuốn "Chương trình chăm sóc và giáo dục mẫu giáo qua truyện và thơ" cùng "Văn học và phương pháp giúp trẻ làm quen với tác phẩm văn học" do Cao Đức Tiến chủ biên cùng Nguyễn Đắc Diệu Lam, Lê Thị Anh Tuyết (Hà Nội, 1992); tài liệu "Chương trình chăm sóc giáo dục mẫu giáo và hướng dẫn thực hiện" của Trần Đình Trọng và Phạm Thị Sửu (NXB Giáo dục, 1994). Tác giả nhận định các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào hệ thống lí luận và phương pháp sư phạm đại cương, chưa đi sâu khảo sát thực trạng cụ thể việc thực thi phương pháp tích hợp chủ đề tại các cơ sở giáo dục mầm non thuộc địa bàn ven biển.
Khung lí luận của đề tài xác định hoạt động đổi mới cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học dựa trên định hướng tích hợp chủ đề và nguyên tắc lấy trẻ làm trung tâm. Về đặc điểm tâm sinh lí, trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi sở hữu tư duy chủ yếu là tư duy trực quan hình tượng và bước đầu xuất hiện tư duy trực quan sơ đồ; chú ý có chủ định bắt đầu phát triển với khả năng tập trung kéo dài từ 37 đến 51 phút. Hoạt động chủ đạo của trẻ vẫn tuân theo quy luật "học mà chơi, chơi mà học". Trẻ có khả năng phân phối chú ý từ 2 đến 3 đối tượng cùng lúc, di chuyển chú ý nhanh nhưng tính phân tán còn mạnh. Khả năng tiếp nhận thẩm mĩ của trẻ ở độ tuổi này đã phát triển rõ nét, nhận biết và cảm thụ được tính cách, tâm trạng của nhân vật qua giọng đọc, điệu bộ và ngữ điệu của người lớn.
Để giải quyết các nhiệm vụ đề ra, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Phương pháp phân tích, tổng hợp lí thuyết nhằm hệ thống hóa các văn bản, giáo trình, tài liệu chuyên môn làm nền tảng lí luận.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp khảo sát sản phẩm hoạt động sư phạm: Quan sát biểu hiện hành vi, lời nói, cảm xúc của trẻ trong giờ học; dự giờ và quan sát thao tác sư phạm của giáo viên trong 12 tiết dạy văn học; khảo sát 12 kế hoạch bài dạy (giáo án) của giáo viên khối 5 – 6 tuổi.
- Phương pháp đàm thoại: Trò chuyện trực tiếp với giáo viên và trẻ để tìm hiểu nhận thức và khả năng tiếp nhận.
- Phương pháp điều tra: Sử dụng phiếu hỏi Anket lấy ý kiến của 12 giáo viên phụ trách các lớp 5 – 6 tuổi tại ba trường mầm non.
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lí định lượng, tính toán tỉ lệ phần trăm các dữ liệu khảo sát.
Nguồn dữ liệu thực nghiệm được thu thập từ địa bàn huyện Hoằng Hóa (dân số 253.450 người theo số liệu điều tra năm 2018; mật độ 1.130 người/km2; 1 thị trấn và 36 xã; tốc độ tăng trưởng 12,7%/năm). Dữ liệu trực tiếp khảo sát tại ba cơ sở:
- Trường Mầm non xã Hoằng Tiến (thành lập năm 1993 tại thôn Phong Lan; quy mô 9 lớp, 30 cán bộ giáo viên, nhân viên; 314 trẻ).
- Trường Mầm non xã Hoằng Đông (thành lập năm 1992; quy mô 10 lớp gồm 7 lớp mẫu giáo và 3 lớp nhà trẻ; 297 học sinh; 17 cán bộ giáo viên, nhân viên).
- Trường Mầm non xã Hoằng Phụ (được công nhận chuẩn Quốc gia năm học 2004 – 2005; đạt danh hiệu thi đua xuất sắc cấp huyện).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Cơ sở lí luận của tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học
Chương này tập trung phân tích bản chất của việc đổi mới tổ chức hoạt động làm quen tác phẩm văn học ở trường mầm non trên ba phương diện:
- Đổi mới về chương trình: Chuyển đổi từ chương trình áp đặt cứng nhắc, quy định sẵn từng tuần, từng tháng sang việc giáo viên chủ động lựa chọn tác phẩm văn học phù hợp với từng chủ đề (ví dụ: chủ đề Bản thân dùng truyện "Cái đuôi của sóc nâu", thơ "Những con mắt"; chủ đề Gia đình dùng truyện "Chú vịt tốt bụng", thơ "Mẹ của em"; chủ đề Trường lớp mầm non dùng thơ "Gà học chữ", truyện "Thỏ trắng biết lỗi"). Tác phẩm lựa chọn phải đảm bảo giá trị thẩm mĩ, tính nhân văn, tính logic, đồng thời tương thích với nhận thức và ngôn ngữ của trẻ.
- Đổi mới về hình thức tổ chức: Triển khai linh hoạt thông qua ba hình thức cốt lõi gồm hoạt động học có chủ đích (tiết học theo 4-5 bước cơ bản: gây hứng thú, tiếp xúc tác phẩm, giảng giải - đàm thoại, dạy trẻ đọc thơ/kể chuyện, kết thúc); hoạt động góc (góc thư viện, góc học tập, góc nghệ thuật với các hoạt động đọc tranh, tô màu, đóng kịch); hoạt động ngoài trời (dạo chơi, tham quan lồng ghép đọc thơ, giải câu đố, đọc đồng dao, ví dụ kể chuyện "Sự tích bông hoa cúc trắng" khi quan sát vườn hoa).
- Đổi mới về phương pháp: Vận dụng linh hoạt các phương pháp đọc kể diễn cảm, trực quan (tranh ảnh, sa bàn, con rối, ứng dụng công nghệ thông tin), đàm thoại (dưới hình thức trò chơi giải ô chữ, vòng quay kì diệu), giảng giải và tổ chức hoạt động trải nghiệm văn học - nghệ thuật. Tác giả nhấn mạnh việc tích hợp đa môn: Âm nhạc, Môi trường xung quanh, Tạo hình (ví dụ dạy truyện "Quả bầu tiên" tích hợp hát bài "Bầu và bí", trò chuyện về bầu bí và nặn quả bầu).
Bên cạnh đó, chương 1 phân tích sâu đặc điểm tâm lí lứa tuổi 5 – 6 tuổi, sự phát triển của tư duy trực quan hình tượng và trực quan sơ đồ, khả năng chú ý có chủ định từ 37 – 51 phút, cũng như phác thảo diện mạo kinh tế - xã hội huyện Hoằng Hóa và đặc điểm ba trường mầm non được lựa chọn làm địa bàn khảo sát.
Chương 2. Thực trạng tổ chức hoạt động LQTPVH cho trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường mầm non ven biển huyện Hoằng Hóa
Chương 2 trình bày toàn bộ số liệu điều tra thu thập từ 6 lớp mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi), 12 giáo viên, 12 giáo án, 12 tiết dự giờ và 176 trẻ tại ba trường mầm non Hoằng Tiến, Hoằng Đông và Hoằng Phụ. Nội dung phản ánh 7 khía cạnh thực trạng:
- Thực hiện chương trình làm quen tác phẩm văn học hiện hành: 100% trường triển khai chương trình đổi mới theo tiếp cận tích hợp chủ đề. 97% lớp thực hiện đủ 8 chủ đề quy định (Trường mầm non, Bé và gia đình, Quê hương – đất nước và các mối quan hệ xã hội, Nghề nghiệp, Thế giới động vật, Thế giới thực vật, Thế giới tự nhiên, Phương tiện giao thông); có 3% giáo viên chưa triển khai chủ đề Quê hương – đất nước và các mối quan hệ xã hội.
- Việc lựa chọn tác phẩm văn học: Về quan niệm, 70% giáo viên (8/12 người) chọn tác phẩm theo tiêu chí phù hợp chủ đề; 21% (3/12 người) căn cứ vào chủ đề và nhận thức lứa tuổi; chỉ 9% (1/12 người) phối hợp toàn diện giữa giá trị nội dung, nghệ thuật, chủ đề và ngôn ngữ trẻ. Về mức độ phù hợp thực tế, 100% tác phẩm phù hợp chủ đề. Tuy nhiên, mức độ phù hợp nhận thức ở hoạt động chung đạt 85,6% (10/12 tác phẩm phù hợp, 14,5% chưa phù hợp); ở hoạt động góc chỉ đạt 70,4% phù hợp (29,6% chưa phù hợp, như việc chọn thơ "Chùm quả ngọt" hay truyện "Cây táo thần" chưa tối ưu cho lứa tuổi 5 – 6). Mức độ hấp dẫn nội dung và nghệ thuật đạt 85%.
- Nhận thức của giáo viên về đổi mới hình thức và phương pháp: 85% giáo viên nhận thức việc đổi mới là "rất cần thiết" và 15% nhận thức là "cần thiết". Tần suất sử dụng hình thức: Hoạt động chung đạt 100% thường xuyên; hoạt động góc đạt 75% thường xuyên và 25% thỉnh thoảng; hoạt động ngoài trời chỉ có 60% thỉnh thoảng và 40% không bao giờ tổ chức; 65% giáo viên hoàn toàn không vận dụng vào giờ đón và trả trẻ.
- Nhận thức về phương pháp: 100% giáo viên đánh giá phương pháp đọc kể diễn cảm, giảng giải và đàm thoại là quan trọng; 95% đánh giá phương pháp trực quan là quan trọng (còn 5% coi là hình thức). Tự đánh giá mức độ sử dụng: 80% giáo viên nhận định thực hiện tốt, 20% đánh giá ở mức khá do chất giọng còn đều đều, diễn cảm hạn chế.
- Chuẩn bị kế hoạch tổ chức hoạt động (khảo sát 12 giáo án): 8/12 giáo án xác định tốt mục đích - yêu cầu (kiến thức, kĩ năng, thái độ) và vận dụng phương pháp linh hoạt; 12/12 giáo án có sử dụng đọc kể diễn cảm, giảng nội dung, đàm thoại; 10 giáo án (94%) sử dụng trực quan; 5 giáo án (50%) sử dụng biện pháp nghệ thuật; 1 giáo án (12,3%) thiếu trực quan và 3 giáo án (34,6%) không thiết kế cho trẻ tự hoạt động nghệ thuật; việc tích hợp liên môn (âm nhạc, toán, khám phá) ở một số giáo án còn quá tải hoặc đơn điệu.
- Tổ chức hoạt động học có chủ đích (dự giờ 12 tiết): 100% giáo viên thực hiện tốt khâu gây hứng thú. Lời kể và giọng đọc đạt loại tốt ở 8/12 giáo viên (70%), loại khá ở 3 giáo viên (20%), còn 1 giáo viên (10%) giọng đều đều, chưa biểu cảm. 10/12 giáo viên (83%) thực hiện giảng giải từ khó (như từ "hối hả" trong bài "Mèo đi câu cá" của Thái Hoài Linh); 9 giáo viên (73%) xác định đúng và giảng tốt nội dung trọng tâm. Đàm thoại có 6 giáo viên (50%) tổ chức tốt, 1 giáo viên (8%) còn lúng túng, câu hỏi chưa kích thích tư duy mở. 100% tiết học có tổ chức trò chơi sáng tạo (như thi gắn tranh truyện "Sơn Tinh – Thủy Tinh"). Kết quả trên 176 trẻ: 83% trẻ hứng thú và hiểu tác phẩm; 17% (26 trẻ) chưa chú ý, chưa hiểu bài; chỉ khoảng 1/3 số trẻ thuộc và diễn cảm tốt, 2/3 trẻ dừng ở mức đọc/kể theo cô.
- Thực trạng hoạt động góc và ngoài trời: Giáo viên chưa chú trọng lập kế hoạch cho hoạt động góc, chủ yếu để trẻ xem tranh tự do tại góc thư viện mà không nắm nội dung, góc nghệ thuật ít được tổ chức và thiếu vắng hoạt động đóng kịch. Ở hoạt động ngoài trời, phần lớn giáo viên để trẻ chơi tự do với đồ chơi sân trường, tỷ lệ lồng ghép văn học theo kế hoạch còn rất thấp.
Chương 3. Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động làm quen văn học theo hướng đổi mới ở các trường mầm non ven biển huyện Hoằng Hóa
Dựa trên kết quả khảo sát thực trạng, chương 3 của khóa luận đề xuất hệ thống 7 biện pháp sư phạm đồng bộ:
- Nâng cao nhận thức cho giáo viên về tổ chức hoạt động làm quen văn học theo hướng đổi mới.
- Lựa chọn tác phẩm phù hợp với chủ đề giáo dục và đặc điểm phát triển tâm lí của trẻ 5 – 6 tuổi.
- Vận dụng linh hoạt các phương pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học (kết hợp đọc kể diễn cảm, trực quan, đàm thoại gợi mở, trải nghiệm nghệ thuật).
- Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học ở mọi lúc, mọi nơi (tận dụng giờ đón/trả trẻ, hoạt động góc, dạo chơi ngoài trời, chuẩn bị giờ ăn/ngủ).
- Nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực cảm thụ và kĩ năng sư phạm của đội ngũ giáo viên.
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tổ chức cho trẻ làm quen tác phẩm văn học (sử dụng trình chiếu, video minh họa, âm thanh sinh động).
- Phối kết hợp chặt chẽ cùng phụ huynh trong việc dạy trẻ làm quen với tác phẩm văn học tại gia đình.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã cung cấp một bức tranh toàn diện, chân thực về hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học tại ba trường mầm non ven biển huyện Hoằng Hóa thông qua hệ thống số liệu định lượng cụ thể:
| Khía cạnh khảo sát |
Chỉ số định lượng theo văn bản |
| Nhận thức về đổi mới (N=12 giáo viên) |
- Rất cần thiết: 10 GV (85%) - Cần thiết: 2 GV (15%) - Không cần thiết: 0 GV (0%) |
| Tần suất hình thức tổ chức |
- Hoạt động chung: 12 GV (100% thường xuyên) - Hoạt động góc: 9 GV (75% thường xuyên), 3 GV (25% thỉnh thoảng) - Hoạt động ngoài trời: 7 GV (60% thỉnh thoảng), 5 GV (40% không bao giờ) - Giờ đón/trả trẻ: 65% không vận dụng |
| Nhận thức phương pháp sư phạm |
- Đọc, kể diễn cảm: 12 GV (100% quan trọng) - Trực quan: 11 GV (95% quan trọng), 1 GV (5% bình thường) - Giảng giải: 12 GV (100% quan trọng) - Đàm thoại: 12 GV (100% quan trọng) |
| Chất lượng lập giáo án (N=12) |
- Xác định tốt mục đích - yêu cầu: 8/12 giáo án - Sử dụng trực quan: 10 giáo án (94%) - Biện pháp nghệ thuật: 5 giáo án (50%) - Thiếu trực quan: 1 giáo án (12,3%) - Không có hoạt động nghệ thuật: 3 giáo án (34,6%) |
| Thực hiện tiết dạy dự giờ (N=12) |
- Hoạt động gây hứng thú: 12 GV (100%) - Giọng đọc kể tốt: 8 GV (70%), khá: 3 GV (20%), hạn chế: 1 GV (10%) - Giảng từ khó: 10 GV (83%) - Giảng đúng nội dung: 9 GV (73%) - Đàm thoại tốt: 6 GV (50%), lúng túng: 1 GV (8%) - Hoạt động sáng tạo: 12 GV (100%) |
| Mức độ tiếp nhận của trẻ (N=176) |
- Hứng thú với bài học: 150 trẻ (83%) - Chưa hứng thú cao: 26 trẻ (17%) - Hiểu nội dung tác phẩm: 150 trẻ (83%) - Chưa hiểu rõ nội dung: 26 trẻ (17%) - Thuộc bài và thể hiện tốt: khoảng 1/3 số trẻ - Đọc/kể dừng ở mức phụ thuộc vào cô: 2/3 số trẻ |
Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc làm rõ khoảng cách giữa nhận thức lí thuyết và hành động thực tiễn của giáo viên mầm non vùng ven biển. Trong khi các nghiên cứu trước đây chỉ tập trung vào phương pháp chung của bộ môn, đề tài này đã xác định rõ nét các "điểm nghẽn" thực tế: sự mất cân đối giữa hoạt động học có chủ đích và hoạt động ngoài giờ (hoạt động góc, hoạt động ngoài trời, đón trả trẻ); kỹ năng đặt câu hỏi đàm thoại gợi mở còn thấp (chỉ 50% đạt yêu cầu); sự lệ thuộc vào các giáo án mẫu khiến hoạt động tích hợp liên môn đôi lúc bị quá tải hoặc hình thức. Hệ thống 7 biện pháp sư phạm đề xuất mang tính khả thi, xuất phát trực tiếp từ các thiếu hụt của địa bàn nghiên cứu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận bộc lộ một số giới hạn nghiên cứu được xác định từ phạm vi và nội dung thực tế:
- Địa bàn khảo sát còn hẹp, mới chỉ thực hiện trên ba trường mầm non (Hoằng Tiến, Hoằng Đông, Hoằng Phụ) trong tổng số 37 xã, thị trấn của huyện Hoằng Hóa; kích thước mẫu dừng ở 12 giáo viên và 176 trẻ thuộc khối 5 – 6 tuổi.
- Khóa luận mới dừng lại ở việc khảo sát thực trạng và đề xuất biện pháp trên cơ sở lí luận và quan sát sư phạm, chưa tiến hành thực nghiệm đối chứng sư phạm để kiểm định hiệu quả định lượng của 7 biện pháp đề xuất ở Chương 3.
- Tác giả tự nhận định tri thức và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học của bản thân còn hạn chế, dẫn đến việc phân tích ở một số tiểu mục khảo sát giáo án và hoạt động góc chưa thật sự chuyên sâu.
Hướng mở rộng cho các nghiên cứu tiếp theo bao gồm: mở rộng diện khảo sát ra toàn bộ các trường mầm non thuộc dải ven biển tỉnh Thanh Hóa; triển khai thiết kế giáo án thực nghiệm áp dụng đồng bộ 7 biện pháp đã nêu và tiến hành dạy đối chứng để đo lường cụ thể mức độ tiến bộ về ngôn ngữ, cảm thụ thẩm mĩ và tính chủ động của trẻ mẫu giáo lớn.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Sinh viên chuyên ngành Giáo dục Mầm non: Cung cấp tài liệu tham khảo thực tế về phương pháp điều tra thực trạng sư phạm, kỹ thuật thiết kế phiếu hỏi Anket, tiêu chí dự giờ và cấu trúc một khóa luận tốt nghiệp ngành mầm non.
- Giáo viên mầm non đang trực tiếp giảng dạy: Cung cấp hệ thống các ví dụ cụ thể về việc chọn lựa thơ, truyện theo từng chủ đề; các bài học kinh nghiệm trong xử lí từ khó (ví dụ từ "hối hả"), thiết kế hệ thống câu hỏi đàm thoại tác phẩm văn học (như truyện "Bánh chưng, bánh giày"), và cách thức lồng ghép các môn Âm nhạc, Toán, Môi trường xung quanh vào bài học một cách hợp lí.
- Cán bộ quản lí chuyên môn mầm non cấp trường và cụm trường: Cung cấp căn cứ thực tế để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ cho giáo viên, đặc biệt là kĩ năng tổ chức hoạt động văn học trong các thời điểm sinh hoạt ngoài tiết học chính khóa (hoạt động góc, hoạt động ngoài trời).
Câu hỏi thường gặp
Khảo sát thực trạng trong khóa luận được tiến hành trên quy mô mẫu và tại những địa điểm cụ thể nào?
Khảo sát được thực hiện trên 6 nhóm lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại ba trường mầm non thuộc ba xã ven biển huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa gồm: Trường Mầm non xã Hoằng Tiến, Trường Mầm non xã Hoằng Đông và Trường Mầm non xã Hoằng Phụ. Tổng số mẫu tham gia điều tra gồm 12 giáo viên trực tiếp giảng dạy, 12 giáo án làm quen tác phẩm văn học được phân tích, 12 tiết dạy được dự giờ quan sát, và 176 trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi được theo dõi, đánh giá kết quả tiếp nhận.
Thực trạng tiếp nhận tác phẩm văn học của 176 trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường khảo sát đạt kết quả ra sao?
Theo kết quả dự giờ 12 tiết học trên 176 trẻ: có 150 trẻ (chiếm 83%) thể hiện sự hứng thú và hiểu được nội dung tác phẩm qua việc trả lời đúng hệ thống câu hỏi của giáo viên; 26 trẻ (chiếm 17%) chưa thực sự hứng thú và chưa nắm được nội dung do thiếu tập trung hoặc khả năng nhận thức chậm hơn. Về mức độ thuộc tác phẩm, chỉ khoảng 1/3 số trẻ thuộc bài và thể hiện lại tác phẩm một cách diễn cảm, tự tin; 2/3 số trẻ còn lại dừng ở mức độ đọc thơ, kể chuyện phụ thuộc hoàn toàn vào sự nhắc nhở của cô giáo.
Giáo viên tại các trường khảo sát nhận thức và triển khai các hình thức cho trẻ làm quen tác phẩm văn học như thế nào?
100% giáo viên tham gia khảo sát thực hiện thường xuyên việc cho trẻ tiếp xúc tác phẩm văn học ở hình thức hoạt động học có chủ đích. Tuy nhiên, ở các hình thức khác còn bộc lộ nhiều khoảng trống: hoạt động góc có 75% giáo viên làm thường xuyên và 25% làm thỉnh thoảng; hoạt động ngoài trời chỉ có 60% làm thỉnh thoảng và 40% không bao giờ thực hiện; đặc biệt có tới 65% giáo viên hoàn toàn không vận dụng kể chuyện, đọc thơ cho trẻ nghe vào thời điểm đón và trả trẻ.
Khóa luận đã phân tích ví dụ tích hợp liên môn cụ thể nào trong bài học tác phẩm văn học?
Khóa luận dẫn chứng nhiều ví dụ thực tế trong giáo án của giáo viên, tiêu biểu như:
- Khi dạy truyện "Quả bầu tiên" (chủ đề Thế giới thực vật), giáo viên tích hợp môn Âm nhạc qua bài hát "Bầu và bí", tích hợp Môi trường xung quanh qua trò chuyện về đặc điểm của bầu và bí, tích hợp môn Tạo hình qua hoạt động nặn quả bầu.
- Khi dạy bài thơ "Tình bạn" của Trần Thị Hương, giáo viên tích hợp môn Âm nhạc qua bài hát "Vui đến trường", tích hợp khám phá tranh ảnh/slide minh họa, và tích hợp môn Toán thông qua việc đếm số lượng các chữ cái (a, ă, â, o, ô, ơ...) có trong văn bản thơ.
Những hạn chế chính trong khâu chuẩn bị giáo án và tổ chức hoạt động góc được chỉ ra là gì?
Trong 12 giáo án khảo sát, có những giáo án đưa ra mục đích – yêu cầu còn chung chung, dập khuôn, chưa chú trọng đúng mức đến nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ và khả năng sáng tạo của trẻ; có 1 giáo án (chiếm 12,3%) hoàn toàn không thiết kế đồ dùng trực quan và 3 giáo án (chiếm 34,6%) không đưa vào hoạt động nghệ thuật. Đối với hoạt động góc, phần lớn giáo viên chưa xây dựng kế hoạch cụ thể, góc nghệ thuật thường xuyên bị bỏ qua hoặc thiếu hoạt động đóng kịch, còn ở góc thư viện giáo viên chủ yếu để trẻ tự mở xem tranh mà không hướng dẫn trẻ khai thác nội dung tác phẩm.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Linh đã phản ánh trung thực, có hệ thống thực trạng tổ chức hoạt động làm quen với tác phẩm văn học theo hướng tích hợp chủ đề cho trẻ 5 – 6 tuổi tại ba trường mầm non ven biển huyện Hoằng Hóa (Hoằng Tiến, Hoằng Đông, Hoằng Phụ). Bằng các phương pháp nghiên cứu sư phạm thực tiễn kết hợp số liệu định lượng cụ thể, đề tài đã chỉ rõ những ưu điểm trong việc tiếp cận đổi mới chương trình cũng như những tồn tại căn bản trong kỹ năng đàm thoại, việc chuẩn bị giáo án và sự thiếu vắng hoạt động văn học ngoài tiết học chung. Trên cơ sở đó, hệ thống 7 biện pháp sư phạm được đề xuất đóng vai trò là giải pháp định hướng thiết thực nhằm giúp giáo viên nâng cao năng lực chuyên môn và nâng cao chất lượng phát triển ngôn ngữ, thẩm mĩ cho trẻ mầm non vùng ven biển.