CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Trải nghiệm Theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê (2003), tr.1020) [22], “trải có nghĩa là đã từng qua, từng biết, từng chịu đựng; nghiệm có nghĩa là kinh qua thực tế nhận thấy điều nào là đúng”. “Hiểu trải nghiệm như vậy gần gũi với quan điểm triết học, khi xem trải nghiệm là kết quả của sự tương tác giữa con người với thế giới khách quan”.
Sự tương tác đó bao gồm cả hình thức và kết quả của các hoạt động thực tiễn trong xã hội, bao gồm cả kĩ thuật và kĩ năng, các nguyên tắc hoạt động và phát triển thế giới khách quan. Còn trong giáo dục, trải nghiệm chính là quá trình “thực hành trong cuộc sống” những điều mà HS đã học trong nhà trường. Nhờ quá trình “thực hành trong cuộc sống” mà HS mới có được những phẩm chất và năng lực cần thiết, đáp ứng yêu cầu của chuẩn đầu ra. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam [39, tr.515], “trải nghiệm theo nghĩa chung nhất là bất kì một trạng thái có màu sắc xúc cảm nào được chủ thể cảm nhận, trải qua, đọng lại thành bộ phận (cùng với tri thức, ý thức.) trong đời sống tâm lí của từng người.
Theo nghĩa hẹp hơn, chuyên biệt hơn của tâm lí học, là những tín hiệu bên trong, nhờ đó nghĩa của các sự kiện đang diễn ra đối với cá nhân được ý thức, chuyển thành ý riêng của cá nhân, góp phần lựa chọn tự giác các động cơ cần thiết, điều chỉnh hành vi của cá nhân” [39].Dewey “trải nghiệm là các hành động có tính thử nghiệm, thực nghiệm của cá nhân trong những tình huống nhất định, làm biến đổi cá nhân nhờ hành động đó” [40]. Tác giả Bùi Ngọc Diệp (2015) “.trải nghiệm trước hết là hành động hay việc làm của cá nhân, nhưng không phải mọi hành động đều là trải nghiệm, mà là những hành động có đặc trưng riêng” và chỉ dẫn 5 đặc trưng là: (1) tính thử nghiệm và có tính phản tư của cá nhân; (2) Hành động trải nghiệm luôn dựa vào kinh nghiệm đã có, liên tục tái cấu trúc các kinh nghiệm đã có với kinh nghiệm hiện tại và hướng tới 6 kinh nghiệm tương lai; chuyển tri thức lí luận thành tri thức có nội dung thực tiễn; (3) Hành động trải nghiệm được diễn ra trong tình huống xác định; (4) Sản phẩm của trải nghiệm là sự thay đổi cá nhân; (5) tính chủ thể trong trải nghiệm [6]. Trải nghiệm (thông qua thực nghiệm, thử nghiệm) là một trong những phương pháp đào tạo, trong điều kiện thực tế hay lý thuyết nhất định, để thiết lập hoặc minh họa cho một quan điểm lý luận cụ thể. Lê Thị Cẩm Nhung (2018) “Trải nghiệm là kiến thức hay sự thành thạo một sự kiện hoặc một chủ đề bằng cách tham gia hay chiếm lĩnh nó.”Trong triết học, thuật ngữ “kiến thức qua thực nghiệm” chính là kiến thức có được dựa trên trải nghiệm.
Một người trải nghiệm nhiều ở một lĩnh vực cụ thể nào đó có thể được coi như chuyên gia của lĩnh vực đó”. Khái niệm “trải nghiệm” dùng để chỉ phương pháp làm ra kiến thức hay quy trình làm ra kiến thức chứ không phải là kiến thức thuần túy được đưa ra, là kiến thức dùng để đào tạo nghề nghiệp chứ không phải là kiến thức trong sách vở. Nhận thức luận có bản chất là “trải nghiệm” [20]. Từ “trải nghiệm” có thể liên quan đến cả các sự kiện được cảm nhận trực tiếp cũng như sự khôn ngoan có được khi phản ảnh lại các sự kiện.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng bản chất trải nghiệm của con người có sự thay đổi về chất từ thời kì tiền hiện đại đến thời kì hiện đại và hậu hiện đại. Trong luận văn này tác giả sử dụng thuật ngữ “Trải nghiệm” theo cách hiểu: “Trải nghiệm là quá trình hoạt động để thu nhận các kinh nghiệm, từ đó vận dụng một cách sáng tạo có hiệu quả vào thực tiễn cuộc sống”. Hoạt động trải nghiệm Tác giả Nguyễn Thị Kim Dung, Nguyễn Thị Hằng (2014) cho rằng: “trải nghiệm để phục vụ lại cuộc sống. Con người sống trong XH hiện thực, trao đổi thông tin với thực tại nhờ đó mà có được những kiến thức và kinh nghiệm sống cho bản thân.
Qua đó con người sẽ dần hoàn thiện mình, cải tạo thế giới hiện thực và sống tốt hơn” [5]. Theo tác giả Đinh Thị Kim Thoa: “trải nghiệm là hoạt động giáo dục trong đó mỗi học sinh trở thành chủ nhân và trực tiếp tham gia vào các hoạt động khác nhau của nhà trường và xã hội dưới sự hướng dẫn của nhà giáo dục. Bằng cách này, các kỹ 7 năng thực hành được phát triển, các phẩm chất nhân cách được phát triển và tiềm năng sáng tạo của cá nhân được phát triển” [30]. Hoạt động trải nghiệm là hoạt động được thực hiện trong và ngoài nhà trường nhằm phát triển, nâng cao và trau dồi ý thức sống tự lập, chia sẻ với học sinh những phẩm chất và tiềm năng của mình thông qua các hoạt động thực tiễn, hành động cụ thể và hành vi của học sinh.
Đây là một hoạt động giáo dục có mục đích và có tổ chức xung quanh chúng. Khi tham gia các hoạt động trải nghiệm, học sinh phát triển tính độc lập, tích cực, tự phát, tự giác và sáng tạo. Học sinh tham gia tích cực vào tất cả các khâu của quá trình hoạt động, từ lập kế hoạch, chuẩn bị và thực hiện hoạt động đến đánh giá kết quả hoạt động theo đặc điểm và khả năng của lứa tuổi. Các em được trải nghiệm, bày tỏ quan điểm và ý tưởng, đánh giá và lựa chọn ý kiến, thể hiện bản thân, khẳng định bản thân, đánh giá kết quả hoạt động của bản thân, nhóm và bạn bè, nhờ đó các em có cơ hội giáo dục và phát triển bản thân các giá trị và kỹ năng họ cần.
“Hoạt động trải nghiệm hình thành và phát triển các giá trị sống và các kỹ năng cần thiết của học sinh. Hoạt động trải nghiệm thực chất là hoạt động nhóm dựa trên tinh thần tự giác, có tính giáo dục nhằm phát triển tính sáng tạo và cá tính riêng của mỗi cá nhân trong nhóm” [31] Hoạt động trải nghiệm bao gồm nội dung đa dạng và toàn diện, tích hợp kiến thức và kỹ năng từ nhiều môn học, nhiều lĩnh vực nghiên cứu và giảng dạy như: Giáo dục lao động, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục môi trường, giáo dục phòng chống ma tuý, giáo dục phòng chống HIV/AIDS, giáo dục cảm thông xã hội. Nội dung giáo dục của hoạt động trải nghiệm thiết thực và gần gũi với cuộc sống thực tế, đáp ứng được nhu cầu hoạt động của học sinh, giúp các em vận dụng những hiểu biết của mình vào trong thực tiễn cuộc sống một cách dễ dàng, thuận lợi. hoạt động trải nghiệm có thể tổ chức theo các quy mô khác nhau như: theo nhóm, theo lớp, theo khối lớp, theo trường hoặc liên trường.
Trong luận văn này tác giả sử dụng khái niệm hoạt động trải nghiệm theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT, về việc bàn hành chương trình giáo dục phổ thông Hoạt động trải nghiệm và hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp, như sau: “là hoạt 8 động giáo dục do nhà giáo dục định hướng, thiết kế và hướng dẫn thực hiện, tạo cơ hội cho học sinh tiếp cận thực tế, thể nghiệm các cảm xúc tích cực, khai thác những kinh nghiệm đã có và huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng của các môn học để thực hiện những nhiệm vụ được giao hoặc giải quyết những vấn đề của thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình, xã hội phù hợp với lứa tuổi; thông qua đó, chuyển hoá những kinh nghiệm đã trải qua thành tri thức mới, hiểu biết mới, kĩ năng mới góp phần phát huy tiềm năng sáng tạo và khả năng thích ứng với cuộc sống, môi trường và nghề nghiệp tương lai” [1]. Tổ chức trải nghiệm trong dạy học môn Toán Là quá trình GV lựa chọn, xây dựng nội dung học tập phù hợp với mục tiêu; thiết kế các trải nghiệm; tổ chức HS hoạt động trong bối cảnh môn học hoặc trong thực tiễn (môi trường trải nghiệm) và đánh giá trải nghiệm theo định hướng hình thành và phát triển năng lực toán học của HS. Dưới đây, chúng tôi sẽ trình bày một số cơ sở tâm lí học và GD học có liên quan trực tiếp đến trải nghiệm trong dạy học Toán ở trường THCS. Đây là những cơ sở lý luận nền tảng để phân tích, làm rõ các mối quan hệ: đặc điểm HS THCS, đặc điểm dạy học Toán ở trường THCS, các mô hình học trải nghiệm trong dạy học Toán ở trường THCS.
Từ đó, tác giả có cơ sở để khảo sát thực trạng và cùng với kết quả khảo sát thực trạng làm căn cứ đề xuất các biện pháp. Lý thuyết học trải nghiệm được hình thành dựa trên cơ sở D. Kolb tổng hợp các tư tưởng trong các tác phẩm của các học giả xuất sắc nhằm giải thích quá trình trải nghiệm và chuyển hóa kinh nghiệm thành nguồn kiến thức của mỗi cá nhân; trong đó Lý thuyết kiến tạo về dạy học được đề cập sâu và cụ thể [89]. Do đó, những nội dung cơ bản về dạy, học theo Lý thuyết kiến tạo là cơ sở để chúng ta đề xuất các biện pháp tổ chức trải nghiệm trong dạy học ở trường THCS.
Đặc điểm của dạy học trải nghiệm Qua tìm hiểu thì tôi thấy rằng học tập trải nghiệm có các đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, quá trình học tập trải nghiệm thể hiện quy luật hoạt động của não bộ, được bắt đầu từ sự thu nhận các “kinh nghiệm giác quan” và kết thúc bởi sự phân 9 tích tổng quát và áp dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc lập kế hoạch cho chu trình mới. Thứ hai, người học được huy động, sử dụng toàn diện các năng lực tâm lí của mình vào quá trình trải nghiệm: Trí tuệ, cảm xúc, thể chất, kĩ năng, thái độ, và đặc biệt là kinh nghiệm đã có. Vì vậy, học tập trải nghiệm là học tập tích hợp điển hình hiệu quả. Thứ ba, tình huống trải nghiệm được thiết kế sao cho người học phải sử dụng, khai thác và kết nối được kinh nghiệm cũ và mới, phải hành động sáng tạo, tự chủ, tự quyết.
Người học được tham gia tích cực, chủ động, tự chịu trách nhiệm với các hành động của mình. Kết quả đạt được phải mang lại sự thỏa mãn cá nhân. Thứ tư, trong học tập trải nghiệm thì sự phát triển, tạo ra những kinh nghiệm mới trên cơ sở cấu trúc lại kinh nghiệm có trước đó.