Chương 1. Cơ sở lí luận của việc tổ chức dạy học theo hướng tiếp cận công nghệ. Tổ chức dạy học phần bài tập chương “Động lực học chất điểm” sách giáo khoa Vật lí lớp 10 nâng cao theo hướng tiếp cận công nghệ. Thực nghiệm sư phạm.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO HƢỚNG TIẾP CẬN CÔNG NGHỆ VÀ DẠY HỌC BÀI TẬP VẬT LÍ Ở TRƢỜNG PHỔ THÔNG 1. Một số vấn đề lí luận về công nghệ dạy học 1. Công nghệ dạy học 1. Khái niệm Công nghệ Thuật ngữ Công nghệ luôn được gắn mật thiết với các quá trình hoạt động sản xuất trong quá trình tạo ra sản phẩm (vật thể và phi vật thể) phục vụ trực tiếp cho đời sống con người.
Khái niệm Technology - Công nghệ (bắt đầu được đưa vào sử dụng năm 1859, xuất xứ từ tiếng Hy Lạp có gốc từ Téchnẽ nghĩa là nghệ thuật, sự lành nghề, kỹ xảo) mang nội hàm sau: - Tổ hợp các phương pháp chế tác, sản xuất, gia công nhằm làm thay đổi trạng thái, thuộc tính, hình thức của nguyên vật liệu hay bán sản phẩm được thực hiện trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm; - Khoa học giải thích những qui luật vật chất, hoá học, cơ chế nhằm mục đích xác định và vận dụng các quá trình sản xuất trong thực tiễn sao cho hiệu quả và kinh tế nhất. (Đại Từ điển Bách khoa toàn thư Xô Viết, 1985, tr. 1321-1322) - Tên gọi chung cho những phương pháp gia công, chế tạo, làm thay đổi trạng thái, tính chất, hình dáng nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm dùng trong quá trình sản xuất để tạo thành phẩm: chuyển giao công nghệ. (Đại Từ điển Tiếng Việt - Nguyễn Như Ý, 1999, tr.456) Một cách khái quát nhất, có thể hiểu Công nghệ không chỉ đơn thuần là thuật ngữ chỉ dành cho lĩnh vực kỹ thuật, công nghiệp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội.
Nội hàm của khái niệm Công nghệ mang tính phổ quát rất cao, bao trùm lên mọi lĩnh vực hoạt động (vật chất và tinh thần) của xã hội: 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com a) Quá trình ứng dụng vào thực tiễn những tri thức của một lĩnh vực đặc thù, cụ thể nào đó (quá trình trí tuệ); b) Những khả năng hay sản phẩm được tạo ra bởi việc ứng dụng tri thức vào thực tiễn (sản phẩm vật chất, tinh thần); c) Những phương thức, cách thức, biện pháp để tạo ra sản phẩm nhờ tuân thủ nghiêm ngặt các qui trình kỹ thuật, phương pháp hay tri thức (hệ thống phương pháp, qui trình, công đoạn kỹ thuật); d) Khuynh hướng đặc biệt nhằm giải quyết những vấn đề mang tính đặc thù của một lĩnh vực cụ thể (sản phẩm trí tuệ). Quan niệm về Công nghệ dạy học Khái niệm CNDH (Technology of teaching) lần đầu được sử dụng trong bản báo cáo của UNESCO năm 1970 với tiêu đề “Learning to be!” và được xác định như một động lực thúc đẩy cho việc hiện đại hoá quá trình giáo dục trong thời đại mới. Theo đó, nhiệm vụ của CNDH là: "xác lập các nguyên tắc hợp lý của việc dạy học và những điều kiện thuận lợi nhất để tiến hành đào tạo cũng như xác lập các phương pháp, phương tiện có hiệu quả nhất để đạt mục đích đào tạo đề ra, đồng thời tiết kiệm được sức lực của người dạy và người học" (UNESCO, 1970). Trong gần 4 thập kỷ qua, vấn đề này đã thu hút được sự quan tâm rộng lớn của các nhà giáo dục, sư phạm trên khắp thế giới, song vẫn chưa có những kiến giải thống nhất về ranh giới nội hàm giữa các thuật ngữ "công nghệ giáo dục", "công nghệ đào tạo", "công nghệ dạy học", "công nghệ sư phạm".
Xung quanh vấn đề CNDH có nhiều ý kiến trái ngược nhau được các nhà giáo dục, sư phạm đưa ra. Điển hình nhất có thể kể đến quan điểm của A. Makarenko: “Quá trình sản xuất sư phạm của chúng ta không bao giờ có thể được xây dựng trên nền tảng logic công nghệ mà luôn phải thiết kế trên logic đạo đức truyền thụ. Chính vì vậy chúng ta không có những công đoạn quan trọng trong quá trình sản xuất sư phạm: quá trình công nghệ, tính toán thao 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tác, công việc thiết kế, những người giám sát và các công cụ hỗ trợ, các chuẩn, sự kiểm soát, thành phẩm hay phế phẩm” (A.
Makarenko, Toàn tập, 1987). Tuy nhiên, trong thực tiễn dạy học, có thể nhận thấy sự nỗ lực và mong muốn của các nhà giáo dục hướng đến những mục tiêu đã định và sự quyết tâm đảm bảo thực hiện thành công những mục tiêu đó. Chính trong quá trình hoạt động này đã xuất hiện những yếu tố đầu vào, mục tiêu, điều kiện và qui trình đảm bảo thực hiện mục tiêu, đầu ra! Mặt khác, tính điêu luyện, thành thục, lành nghề, kỹ xảo. luôn là đặc điểm thúc đẩy, chi phối mọi hoạt động (trong đó có dạy học) của con người trong xã hội, tạo nên một cấp độ mới về chất trong hoạt động: tính hiệu quả, tối ưu, kinh tế.
Ví dụ: để đảm bảo thành công - đạt mục tiêu - cho một tiết dạy, người dạy cần phải thực hiện một chuỗi qui trình từ khâu chuẩn bị, soạn giáo án, tâm thế, triển khai trên lớp đến thu thập thông tin phản hồi, đánh giá v. Mỗi khâu lại đòi hòi phải có những thao tác hoạt động, hành vi thực hiện cụ thể. Bất kỳ một thao tác nào bị vi phạm rất có thể sẽ ảnh hưởng đến kết quả của từng khâu, dẫn đến sự thất bại của giờ dạy học. Toàn bộ qui trình này có thể được đóng gói và sử dụng trong nhiều trường hợp, hoàn cảnh khác nhau.
Hiệp hội Công nghệ và Truyền thông trong giáo dục (AECT: Association for Educational Communications and Technology) định nghĩa CNDH là: “một qui trình phức tạp, tích hợp con người, ý tưởng, cách thức, phương tiện và tổ chức để phân tích các vấn đề, đề xuất thực hiện, đánh giá, điều hành cách giải quyết các vấn đề liên quan đến mọi phương diện dạy học” (1977). Bản chất của Công nghệ dạy học 1. Công nghệ dạy học được hiểu như một quá trình "công nghệ hoá" dạy học Bản chất "công nghệ" trong QTDH được bộc lộ ở những khía cạnh sau: - Sự tính toán thiết kế, lên kế hoạch tổ chức QTDH (tính toán đầu vào): xác định đối tượng người học (trình độ, đặc điểm tâm sinh lý, giới tính, lứa tuổi.); xác định nội dung dạy học; xác định điều kiện, PTKT dạy học; xác định các yếu tố môi trường; xác định cách kiểm tra đánh giá. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Việc xác lập mục tiêu dạy học (tính toán đầu ra); - Việc tuân thủ trật tự, thứ bậc các thao tác, hành vi (không nhất thiết phải theo một chương trình lập sẵn), điều chỉnh hoạt động hợp lý: xác định qui trình, các bước dạy học; lựa chọn phương pháp, kỹ thuật dạy học phù hợp.
- Tính hiệu quả của quá trình, các yếu tố nguồn lực; - Khả năng đảm bảo đạt mục tiêu tương tự trong những lần khác lặp lại quá trình. Nghiên cứu các học thuyết về tâm lí học, giáo dục, các mô hình dạy học từ trước đến nay chúng ta đều có thể chỉ ra được những đặc điểm công nghệ, tính công đoạn, qui trình. xuất hiện trong việc dạy học. [3], [12] Có thể dẫn ra một số học thuyết điển hình sau: a) Thuyết liên tƣởng (J.) và mô hình dạy học trực tiếp (Direct Instruction).
Theo học thuyết này tri thức mà chúng ta có được là nhờ con đường liên kết các cảm giác và ý tưởng, tần số các liên kết này được nhắc lại trong kinh nghiệm. Sự phát triển nhận thức chính là quá trình tích luỹ các liên tưởng. Sự khác biệt về trình độ và năng lực nhận thức được đo bởi số lượng, chất lượng, tốc độ kích thích các liên tưởng. Vận dụng học thuyết này người dạy sẽ cố gắng thông báo đến người học những “gói” kiến thức có sẵn (nội dung giáo khoa), được thiết kế theo một cấu trúc nhất định (chương trình giáo khoa).
Cách thức thông báo chủ yếu qua con đường các cơ quan cảm giác (nghe, nhìn) để đến với trí nhớ của người học. Người học sẽ tiếp nhận, sàng lọc, xử lý và lưu giữ thông tin trong bộ não. Và ở đây ý tưởng về “công nghệ dạy học” rất gần với “công nghệ dẫn truyền thông tin”: tăng cường chất lượng thông tin đầu vào, tăng cường hiệu quả xử lý thông tin. để có thông tin đầu ra đạt chuẩn, có độ tin cậy (trình độ của người học).
Mô hình này phù hợp với dạy học các sự kiện, khái niệm (Declarative knowledge): cái gì, ở đâu, khi nào.? 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com b) Thuyết hành vi và mô hình dạy học tạo tác (S R) Đại diện tiêu biểu cho học thuyết này là nhà tâm lý học người Mỹ B. Khi nghiên cứu thực nghiệm ở chim bồ câu (hình thành phản xạ lựa chọn hạt sỏi màu đỏ và hạt đỗ màu xanh), ông đã rút ra kết luận rằng cả ở động vật và người đều có 3 dạng hành vi: không điều kiện, có điều kiện và tạo tác. Trong đó hành vi tạo tác giữ vai trò chủ đạo, được hình thành từ một hành vi trước đó, được củng cố từ những kinh nghiệm tác động vào môi trường. Trong cuốn sách The Technology of Teaching (1968), Skinner đã mạnh dạn khẳng định thực chất của "công nghệ giảng dạy" là việc xây dựng các hệ thống kích thích kỹ năng, thao tác cần thiết cho người học theo sơ đồ S r s R (S: stimulation - kích thích; R: reflection - phản ứng), trong đó quan trọng nhất là kỹ năng học.
Người học chỉ thực sự học được khi họ muốn học, có những tác nhân kích thích việc học (động cơ học tập). Bằng cách này các tri thức (nội dung dạy học) được chương trình hoá và cấu trúc theo một logic chặt chẽ, trong đó có các đơn vị đảm bảo thành công. Tập hợp các đơn vị thành công này sẽ hình thành và phát triển những kích thích tích cực, có lợi đối với người học. Mô hình này phù hợp với dạy các nguyên lí, quá trình (procedural knowledge): làm thế nào, bằng cách nào.? c) Thuyết kiến tạo nhận thức của J.Piaget và mô hình dạy học khám phá (DUD: Doing and Understanding).
Học là quá trình tìm tòi khám phá, tương tác với thế giới bên ngoài để tạo ra tri thức về sự vật, hiện tượng.