Tổng quan nghiên cứu

Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đánh dấu bước chuyển dịch mang tính chiến lược từ nền giáo dục trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học, bám sát tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013. Trong cấu trúc môn Ngữ văn lớp 10 theo Quyết định số 442/QĐ-BGDĐT ban hành ngày 28/01/2022, thể loại văn bản truyện chiếm tỷ trọng tới 22% tổng số bài học đọc hiểu. Bài học số 7 mang tên "Quyền năng của người kể chuyện" trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 bộ Kết nối tri thức với cuộc sống được phân bổ thời lượng 12 tiết, giữ vai trò then chốt trong việc trang bị cho học sinh các công cụ trần thuật học hiện đại để giải mã cấu trúc tự sự.

Thực tiễn triển khai cho thấy việc tiếp cận văn bản truyện theo đặc trưng thể loại tại trường trung học phổ thông vẫn còn nhiều rào cản. Đa số giáo viên vẫn duy trì lối truyền thụ một chiều, trong khi học sinh lớp 10 mới chuyển cấp còn lúng túng trước các khái niệm phức tạp như ngôi kể, điểm nhìn, giọng điệu và khoảng cách trần thuật. Mục tiêu cụ thể của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận về tự sự học, khảo sát thực trạng nhận thức tại 2 cơ sở giáo dục, đề xuất 4 biện pháp tổ chức dạy học tích hợp và tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính khả thi. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn mã số 8140217.01 do tác giả Lê Thị Minh Trang thực hiện năm 2023 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lê Hải Anh đã giải quyết thấu đáo vấn đề này, cung cấp giải pháp sư phạm chuẩn mực giúp nâng cao rõ rệt năng lực tiếp nhận văn học và năng lực ngôn ngữ của học sinh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết trần thuật học hiện đại kết hợp với mô hình dạy học phát triển năng lực. Về phương diện tự sự học, đề tài kế thừa các luận điểm nền tảng của Gérard Genette về các cấp độ trần thuật gồm người kể chuyện bên trong (intradiegetic narrator), người kể chuyện bên ngoài (extradiegetic narrator), người kể chuyện dị sự (heterodiegetic narrator) và người kể chuyện đồng sự (homodiegetic narrator). Cùng với đó, các công trình của Boris Uspensky, Tzvetan Todorov, Roland Barthes, Mikhail Bakhtin, Robert Scholes và Robert Kellogg cung cấp khung tham chiếu về tiêu cự trần thuật, khoảng cách nghệ thuật và sự tương tác giữa lời người kể chuyện với lời nhân vật. Tại Việt Nam, hệ thống lý thuyết của Giáo sư Trần Đình Sử, PGS.TS Đỗ Ngọc Thống và nhà nghiên cứu Đỗ Thị Hiên về thi pháp học và nhân vật trần thuật là chỗ dựa trực tiếp cho việc ứng dụng vào chương trình phổ thông.

Khung năng lực chuyên biệt được xác định theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 bao gồm năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học qua 4 trục kĩ năng đọc, viết, nói và nghe. Các khái niệm công cụ cốt lõi được thao tác hóa gồm:

  • Người kể chuyện: vai giao tiếp nghệ thuật do nhà văn tạo ra để thực hiện hành vi trần thuật.
  • Người kể chuyện toàn tri: chủ thể trần thuật đứng ngoài câu chuyện, có khả năng thấu suốt toàn bộ biến cố, không gian, thời gian và thế giới nội tâm thầm kín của nhân vật.
  • Người kể chuyện hạn tri: người kể chuyện bị giới hạn trong phạm vi tri nhận, quan sát và trải nghiệm cụ thể của một nhân vật hoặc một vị trí nhất định.
  • Điểm nhìn trần thuật: vị trí, góc độ và phương thức mà chủ thể sử dụng để cảm thụ, đánh giá và tái hiện hiện thực nghệ thuật.
  • Quyền năng của người kể chuyện: mức độ bao quát, khả năng thấu suốt tâm lý và thẩm quyền chi phối cảm nhận của người đọc về bức tranh đời sống trong tác phẩm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu vận dụng phối hợp các phương pháp khoa học giáo dục trên nguồn dữ liệu khảo sát và thực nghiệm cụ thể:

  • Phương pháp chọn mẫu: Tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích với tổng quy mô gồm 20 giáo viên và 70 học sinh lớp 10. Mẫu được khảo sát tại 2 môi trường giáo dục tiêu biểu đại diện cho hai mô hình trường học khác nhau: Trường THPT Ngô Quyền (huyện Ba Vì, Hà Nội) đại diện cho khối công lập truyền thống và Trường Phổ thông liên cấp Greenfield School (huyện Văn Giang, Hưng Yên) đại diện cho mô hình giáo dục chất lượng cao, hội nhập.
  • Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu: Phương pháp định lượng thông qua bảng hỏi, phiếu điều tra trắc nghiệm kết hợp thống kê toán học để lượng hóa mức độ hứng thú, năng lực nhận diện và kết quả học tập. Phương pháp định tính gồm dự giờ, phân tích sản phẩm học tập, phỏng vấn sâu giáo viên và chuyên gia nhằm tìm hiểu nguyên nhân cốt lõi của những khó khăn sư phạm.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế bài dạy thực nghiệm đối chứng trên 2 lớp học có trình độ tương đương trong giai đoạn học kỳ 2 năm học 2022-2023, tiến hành đo lường chuẩn hóa kết quả trước và sau thực nghiệm bằng các tiêu chí đánh giá năng lực đọc hiểu văn bản truyện.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực trạng trên 20 giáo viên và 70 học sinh lớp 10 mang lại các kết quả định lượng xác thực:

  • Về nhận thức và phương pháp của giáo viên: 92.3% giáo viên khẳng định người kể chuyện giữ vai trò rất quan trọng trong tác phẩm tự sự, 7.7% đánh giá ở mức quan trọng. Tuy nhiên, 64.3% giáo viên chỉ hiểu ở mức cơ bản về lý thuyết trần thuật học, 14.3% thừa nhận hiểu nhưng chưa chắc chắn, chỉ có 21.4% hiểu sâu. Trong thực tiễn giảng dạy, phương pháp thuyết trình vẫn chiếm ưu thế vượt trội với 35.7%, hoạt động nhóm chiếm 28.6%, trong khi các phương pháp tích cực như ứng dụng công nghệ thông tin, sơ đồ tư duy, sân khấu hóa và vấn đáp chỉ chiếm 14.3% cho mỗi hình thức.
  • Về mức độ tiếp nhận của học sinh: Có 60% học sinh quan tâm đến yếu tố người kể chuyện khi đọc truyện, 26.7% thỉnh thoảng quan tâm và 13.3% hoàn toàn không quan tâm. Đáng chú ý, chỉ 5.9% học sinh tự đánh giá hiểu sâu về bài học, 23.5% hiểu cơ bản, 53% hiểu nhưng chưa chắc chắn và 17.6% hoàn toàn không hiểu. Khi giải mã văn bản, đa số học sinh gặp trở ngại lớn nhất trong việc tìm dẫn chứng minh họa, tiếp theo là khó khăn trong xác định điểm nhìn trần thuật và phân biệt lời người kể chuyện với lời nhân vật.
  • Về hiệu quả can thiệp thực nghiệm: Dữ liệu so sánh kết quả học tập sau thực nghiệm ghi nhận sự bứt phá rõ rệt ở lớp thực nghiệm so với lớp đối chứng. Tỷ lệ học sinh đạt mức độ hiểu sâu và vận dụng sáng tạo trong việc phân tích quyền năng người kể chuyện tăng từ khoảng 12% lên trên 45%, tỷ lệ học sinh yếu kém giảm hơn 15%, đồng thời năng lực viết đoạn văn kết nối đọc và viết đạt chuẩn vượt trội.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu khảo sát được biểu diễn trực quan qua các biểu đồ hình cột và bảng đối sánh định lượng trong luận văn. Hình 1 phản ánh rõ độ lệch pha giữa nhận thức của giáo viên (92.3% đánh giá rất quan trọng) với thói quen phương pháp (35.7% vẫn lạm dụng thuyết trình truyền thống). Sự phụ thuộc vào lối giảng giải lý thuyết suông khiến học sinh tiếp thu thụ động, chỉ dừng lại ở thao tác trả lời các câu hỏi cuối bài và sao chép tài liệu tham khảo có sẵn trên Internet.

Mức độ hiểu biết của học sinh về người kể chuyện:

Khi nghiên cứu 3 ngữ liệu bắt buộc gồm Dưới bóng hoàng lan (Thạch Lam), Một chuyện đùa nho nhỏ (Anton Chekhov), Người cầm quyền khôi phục uy quyền (Victor Hugo) và ngữ liệu đọc mở rộng Con khướu sổ lồng (Nguyễn Quang Sáng), học sinh thường nhầm lẫn giữa tác giả thực tế và hình tượng người kể chuyện. Kết quả thực nghiệm khẳng định quan điểm của GS. Trần Đình Sử và PGS.TS Đỗ Ngọc Thống: muốn phát triển năng lực văn học, giáo viên phải dạy học sinh "cách đọc" theo đặc trưng thể loại thay vì dạy "bài đọc". Sự chuyển biến của lớp thực nghiệm chứng minh rằng khi học sinh được tự mình khám phá sự dịch chuyển điểm nhìn từ "lúc đó" sang "bây giờ" của nhân vật xưng "tôi" trong truyện của Chekhov, hay phân tích cái nhìn toàn tri thấu suốt tâm can trong tác phẩm của Victor Hugo, năng lực tư duy phản biện và cảm thụ thẩm mỹ của các em được nâng lên một tầm mức hoàn toàn mới.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để các hạn chế trong thực tiễn giảng dạy bài 7 môn Ngữ văn 10, luận văn đề xuất 4 giải pháp hành động cụ thể:

  • Triển khai chiến lược đọc hiểu theo mã thể loại tự sự: Giáo viên áp dụng hệ thống chỉ dẫn đọc hiểu có định hướng, hướng dẫn học sinh nhận diện các dấu hiệu hình thức của người kể chuyện ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai, ngôi thứ ba và các điểm nhìn bên trong, bên ngoài. Mục tiêu nâng tỷ lệ học sinh tự giải mã văn bản truyện đạt trên 80% trong khung thời lượng 8 tiết đọc hiểu.
  • Xây dựng hệ thống phiếu học tập đa tầng hóa: Thiết kế các phiếu học tập phân hóa theo bậc nhận thức (nhận biết, thông hiểu, vận dụng, vận dụng cao) nhằm giúp 100% học sinh bóc tách được mạng lưới chi tiết, đối chiếu xung đột nhân vật và phân biệt rành mạch lời người kể chuyện với lời nhân vật trong tác phẩm Người cầm quyền khôi phục uy quyền.
  • Tổ chức hoạt động kết nối đọc với viết nhằm phát triển năng lực tạo lập: Hướng dẫn học sinh thực hiện các bài tập viết đoạn văn ngắn từ 150 đến 200 chữ bàn về vai trò, sự thay đổi điểm nhìn và giới hạn nhận thức của người trần thuật ngay sau mỗi văn bản đọc hiểu. Chủ thể thực hiện là giáo viên bộ môn tại các trường trung học phổ thông trong suốt tiến trình 2 tiết thực hành viết của bài học.
  • Đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn và phương pháp kiểm tra đánh giá: Các tổ chuyên môn Ngữ văn cần tổ chức sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học định kỳ 2 lần mỗi học kỳ, chuyển trọng tâm đề kiểm tra từ kiểm tra tái hiện nội dung cốt truyện sang đánh giá năng lực phát hiện, phân tích và bình luận về nghệ thuật trần thuật với các ngữ liệu mới ngoài sách giáo khoa.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Giáo viên Ngữ văn cấp trung học phổ thông: Cung cấp tài liệu tham khảo trực tiếp với hệ thống giáo án thực nghiệm chi tiết 12 tiết, các mẫu phiếu học tập sáng tạo và quy trình tổ chức dạy học phân hóa cho bài số 7 sách Kết nối tri thức với cuộc sống.
  • Sinh viên và học viên cao học chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn: Cung cấp khung lý thuyết trần thuật học chuẩn mực, quy trình nghiên cứu khoa học giáo dục từ khảo sát thực trạng 70 học sinh, 20 giáo viên đến thiết kế thực nghiệm sư phạm đối chứng.
  • Cán bộ quản lý chuyên môn và tổ trưởng bộ môn: Cung cấp cơ sở khoa học để đánh giá tiết dạy đọc hiểu văn bản truyện theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh đáp ứng chuẩn đầu ra của Chương trình 2018.
  • Tác giả sách giáo khoa và các nhà nghiên cứu giáo dục: Cung cấp dữ liệu thực nghiệm thực tế về mức độ tiếp thu của học sinh lớp 10, làm căn cứ phản hồi quý giá để điều chỉnh, hoàn thiện ngữ liệu và hệ thống câu hỏi trong các lần tái bản sách giáo khoa.

Câu hỏi thường gặp

Quyền năng của người kể chuyện trong văn bản tự sự được hiểu như thế nào?

Quyền năng của người kể chuyện là phạm vi và mức độ can thiệp nghệ thuật của chủ thể trần thuật vào việc dẫn dắt, miêu tả, phân tích tâm lý nhân vật và định hướng tiếp nhận cho độc giả. Quyền năng này thể hiện qua sự thấu suốt diễn biến sự kiện, khả năng luân chuyển điểm nhìn linh hoạt và năng lực tổ chức hệ thống lời văn trong tác phẩm.

Vì sao học sinh lớp 10 thường gặp khó khăn khi xác định điểm nhìn trần thuật?

Khảo sát thực tế trên 70 học sinh cho thấy có tới 53% học sinh hiểu chưa chắc chắn do thói quen đọc truyện thụ động từ cấp trung học cơ sở. Các em thường đồng nhất tác giả ngoài đời với người kể chuyện trong tác phẩm, hoặc lúng túng khi gặp các văn bản có sự đan xen phức tạp giữa điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài.

Làm thế nào để kết nối hiệu quả kĩ năng đọc và kĩ năng viết trong bài học này?

Sau khi đọc hiểu văn bản như Một chuyện đùa nho nhỏ, giáo viên yêu cầu học sinh viết đoạn văn từ 150 đến 200 từ phân tích tâm trạng tiếc nuối của nhân vật "tôi" khi nhìn lại quá khứ từ điểm nhìn hiện tại. Hoạt động này giúp học sinh chuyển hóa tri thức đọc hiểu thành kĩ năng tạo lập văn bản mạch lạc.

Sự khác biệt bản chất giữa người kể chuyện toàn tri và hạn tri là gì?

Người kể chuyện toàn tri (thường ở ngôi thứ ba) biết hết mọi điều, có mặt ở mọi không gian và nắm bắt mọi suy nghĩ thầm kín nhất của nhân vật. Ngược lại, người kể chuyện hạn tri (thường ở ngôi thứ nhất) bị giới hạn tầm quan sát và đánh giá trong phạm vi trải nghiệm chủ quan của chính nhân vật đó.

Việc tổ chức thảo luận nhóm có giúp phát triển tư duy phản biện của học sinh không?

Qua 28.6% các tiết dạy sử dụng thảo luận nhóm có định hướng, học sinh được tranh biện về tính khách quan của người kể chuyện hay dụng ý của tác giả khi thay đổi ngôi kể. Quá trình trao đổi và bảo vệ quan điểm cá nhân giúp học sinh hình thành tư duy đa chiều và năng lực tự chủ trong học tập.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về tự sự học hiện đại và nguyên lý dạy học phát triển năng lực môn Ngữ văn theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
  • Bức tranh thực trạng giảng dạy tại 2 trường trung học phổ thông với 20 giáo viên và 70 học sinh đã chỉ rõ các điểm nghẽn về phương pháp và nhận thức trần thuật học.
  • Đề tài xây dựng thành công quy trình sư phạm gồm 4 biện pháp tổ chức dạy học bài "Quyền năng của người kể chuyện" gắn kết chặt chẽ trục đọc, viết, nói và nghe.
  • Kết quả thực nghiệm sư phạm đối chứng đã chứng minh tính hiệu quả vượt trội của các biện pháp đề xuất trong việc nâng cao kết quả học tập và hứng thú của học sinh.
  • Nghiên cứu mở ra hướng ứng dụng mở rộng cho các bài học truyện ở lớp 11 và lớp 12 trong lộ trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục từ năm học 2023-2024 trở đi.

Quý thầy cô giáo, các nhà nghiên cứu và các bạn học viên hãy áp dụng ngay quy trình và hệ thống phiếu học tập của luận văn vào thực tiễn bài giảng để tạo nên những giờ học Ngữ văn 10 sáng tạo, truyền cảm hứng và phát triển tối đa năng lực học sinh.