Tổng quan nghiên cứu

Trong cơ cấu tổ chức tư pháp, thi hành án dân sự là giai đoạn cuối cùng bảo đảm các phán quyết của Tòa án được hiện thực hóa trong đời sống. Tại tỉnh Ninh Bình, với diện tích tự nhiên 1.400 km² và quy mô dân số 982.487 người phân bổ tại 8 đơn vị hành chính cấp huyện gồm 2 thành phố và 6 huyện, công tác tư pháp giữ vai trò nòng cốt trong việc duy trì ổn định an ninh trật tự. Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình hiện quản lý 93 biên chế với 37 Chấp hành viên, chịu trách nhiệm tổ chức thi hành khối lượng lớn bản án trên địa bàn 143 xã, phường, thị trấn.

Giai đoạn 2016 - 2020 ghi nhận tốc độ đô thị hóa nhanh chóng cùng những biến động kinh tế phức tạp, dẫn đến tình trạng hàng chục doanh nghiệp phá sản và hàng trăm tỷ đồng nợ xấu tín dụng ngân hàng không thể tự thanh toán. Thực tế này làm phát sinh nhiều vụ việc tranh chấp tài sản quy mô lớn, trong đó đương sự tìm mọi cách trì hoãn, chống đối và tẩu tán tài sản, buộc cơ quan chức năng phải áp dụng biện pháp cưỡng chế.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ bản chất lý luận, đánh giá khách quan thực trạng tổ chức thực hiện cưỡng chế thi hành án dân sự tại tỉnh Ninh Bình trong 5 năm từ 2016 đến 2020, chỉ ra những vướng mắc nghiệp vụ và nguyên nhân dẫn đến sai sót. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao tỷ lệ thi hành dứt điểm các vụ việc phức tạp, giảm thiểu đơn thư khiếu nại kéo dài, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan và củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân vào sự tôn nghiêm của pháp luật.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng nền tảng lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kết hợp với lý thuyết tổ chức thực hiện pháp luật. Theo đó, pháp luật được tiếp cận dưới hai phương diện: trạng thái tĩnh thể hiện qua hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và trạng thái động thể hiện qua hành động thực thi của các chủ thể có thẩm quyền nhằm đưa quy định vào cuộc sống.

Mô hình nghiên cứu thiết lập sự tương tác giữa 4 trụ cột cơ bản: chủ thể ban hành và thực thi quyết định cưỡng chế; hệ thống thủ tục pháp lý chặt chẽ theo luật định; các biện pháp bảo đảm và cưỡng chế tài sản; cơ chế phối hợp liên ngành giữa cơ quan thi hành án, Công an, Tòa án, Viện kiểm sát và chính quyền địa phương.

Ba khái niệm nòng cốt được làm rõ trong công trình gồm:

  1. Thi hành án dân sự: hoạt động nghiệp vụ của cơ quan thi hành án nhằm bảo đảm thực thi phần nghĩa vụ dân sự trong các bản án có hiệu lực.
  2. Cưỡng chế thi hành án dân sự: biện pháp cưỡng bức bắt buộc do Chấp hành viên tiến hành theo Điều 44 và Điều 46 Luật Thi hành án dân sự nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền tài sản của người phải thi hành án khi họ có điều kiện nhưng không tự nguyện chấp hành.
  3. Kế hoạch cưỡng chế thi hành án: văn bản quy phạm nghiệp vụ gồm 06 nội dung bắt buộc theo Điều 72 Luật Thi hành án dân sự, xác lập phương án huy động lực lượng, bảo vệ hiện trường và dự trù kinh phí.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm các báo cáo tổng kết định kỳ giai đoạn 2016 - 2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình, hệ thống hồ sơ thi hành án tại 8 Chi cục cấp huyện, cùng các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của Bộ Tư pháp và Tổng cục Thi hành án dân sự.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tác giả tiến hành khảo sát toàn bộ 100% hồ sơ vụ việc phải tổ chức cưỡng chế trên địa bàn toàn tỉnh trong giai đoạn 5 năm nghiên cứu, đồng thời đánh giá toàn diện năng lực công tác của 93 cán bộ, công chức trong toàn ngành (bao gồm 37 Chấp hành viên các ngạch). Bên cạnh đó, phương pháp chọn mẫu điển hình có chủ đích được áp dụng để phân tích sâu các đại án có tính chất phức tạp cao như vụ cưỡng chế doanh nghiệp Minh Thoa – Cố Viên Lầu tại huyện Hoa Lư hay vụ việc ông Trần Viết Hải tại huyện Kim Sơn.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích tổng hợp và so sánh thực tiễn là nhằm bảo đảm tính bao quát toàn diện 100% hiện tượng nghiên cứu, phản ánh chính xác các số liệu về việc và về tiền, tránh sai số chọn mẫu, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm sâu sắc cho công tác quản lý và tác nghiệp thực địa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tổ chức bộ máy cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình được kiện toàn vững chắc với 93 biên chế, trong đó có 37 Chấp hành viên gồm 01 Chấp hành viên cao cấp, 19 Chấp hành viên trung cấp và 18 Chấp hành viên sơ cấp, kết hợp 10 Thẩm tra viên. Lực lượng này đã quản lý và xử lý khối lượng lớn công việc tại Cục và 8 Chi cục trực thuộc.

Thứ hai, áp lực thi hành án tăng đột biến do số lượng nợ xấu tín dụng lên đến hàng trăm tỷ đồng và sự gia tăng của các vụ án kinh doanh thương mại, tội phạm ma túy, lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Mặc dù số lượng án tồn đọng cần áp dụng biện pháp cưỡng chế còn ở mức cao, toàn ngành đã thu hồi nguồn tài chính quan trọng, góp phần khơi thông dòng vốn cho nền kinh tế địa phương.

Thứ ba, công tác lập kế hoạch và ban hành văn bản cưỡng chế được thực hiện nghiêm túc, phối hợp hiệu quả với lực lượng Công an theo thời hạn 03 ngày làm việc để bảo vệ an toàn hiện trường. Nhiều vụ việc cưỡng chế quy mô lớn, có sự chống đối gay gắt của đương sự như vụ Đỗ Thị Tâm – Vị, vụ Huy – Thơm tại thành phố Ninh Bình hay vụ Công ty TNHH Tân Việt tại huyện Hoa Lư đều được tổ chức thành công, đúng pháp luật.

Thứ tư, nghiên cứu phát hiện một số hạn chế trong tác nghiệp như việc chuẩn bị phương tiện, trang thiết bị phục vụ cưỡng chế chưa chu đáo, làm kéo dài thời gian xử lý thực địa; năng lực đánh giá khả năng chống đối của đương sự ở một vài Chấp hành viên còn hạn chế. Trong năm 2020, ngành đã phải xử lý kỷ luật 01 Chấp hành viên do có hành vi vi phạm pháp luật.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những khó khăn trong cưỡng chế xuất phát từ sự chống đối tinh vi của người phải thi hành án, việc bản án của Tòa án không tuyên áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời dẫn đến tài sản bị tẩu tán trước khi chuyển sang cơ quan thi hành án, cùng với áp lực khối lượng việc quá tải đè nặng lên 37 Chấp hành viên.

Khi so sánh với các nghiên cứu thực tiễn tại tỉnh Bắc Giang, tỉnh Hải Dương và thành phố Hà Nội, điểm tương đồng nổi bật là các vướng mắc phổ biến trong việc kê biên quyền sử dụng đất và thu hồi nợ của các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, tỉnh Ninh Bình có điểm sáng là sự vào cuộc kịp thời của Ban Chỉ đạo Thi hành án dân sự cấp tỉnh, giúp huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong việc xử lý các điểm nóng an ninh trật tự.

Toàn bộ dữ liệu nghiên cứu có thể được mô tả trực quan qua bảng tổng hợp kết quả thi hành án về việc và về tiền giai đoạn 2016 - 2020, kết hợp biểu đồ cột phân tích so sánh tỷ lệ cưỡng chế thành công giữa khu vực đô thị (2 thành phố Ninh Bình, Tam Điệp) và khu vực nông thôn (6 huyện còn lại). Việc biểu diễn này giúp các nhà quản trị nhận diện rõ nét áp lực công việc và sự phân hóa độ phức tạp của từng địa bàn.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống thể chế pháp luật: Quốc hội và Bộ Tư pháp cần sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự, giảm 25% các khâu trung gian trong thủ tục xác minh điều kiện tài sản; quy định rõ cơ chế cưỡng chế kê biên tài sản của bên thứ ba nhận bảo lãnh và bổ sung quy định xử lý các loại tài sản mới như quyền khai thác khoáng sản hay tài sản hình thành trong tương lai trong giai đoạn 2021 - 2025.

Thứ hai, nâng cao trình độ chuyên môn và phẩm chất nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ: Cục Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình cần tổ chức tập huấn kỹ năng thực tế, bảo đảm 100% trong số 37 Chấp hành viên và 10 Thẩm tra viên được bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng lập kế hoạch tác nghiệp, phân tích tâm lý đương sự và xử lý tình huống chống đối khẩn cấp, thực hiện định kỳ hàng quý trong giai đoạn 2021 - 2023.

Thứ ba, tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành: Cục Thi hành án dân sự tỉnh, Công an tỉnh và Ủy ban nhân dân các cấp cần ký kết quy chế phối hợp phản ứng nhanh, cam kết 100% kế hoạch bảo vệ cưỡng chế được cơ quan Công an phê duyệt và triển khai lực lượng trong thời hạn 03 ngày làm việc theo đúng Điều 7 Luật Thi hành án dân sự, hoàn thành trong năm 2022.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác phổ biến giáo dục pháp luật: Ban Chỉ đạo Thi hành án dân sự các cấp chủ trì triển khai các chương trình tuyên truyền miệng và hòa giải trực tiếp tại 143 xã, phường, thị trấn, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ đương sự tự nguyện thi hành án lên trên 80%, giảm 30% các vụ việc phải áp dụng biện pháp cưỡng chế huy động lực lượng trong giai đoạn 2021 - 2026.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, đội ngũ Chấp hành viên, Thẩm tra viên và Thư ký thi hành án tại các cơ quan thi hành án dân sự trên toàn quốc thuộc 63 tỉnh, thành phố: Luận văn là tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ hữu ích về quy trình 6 bước lập kế hoạch cưỡng chế, kỹ năng dự báo rủi ro thực địa và phương pháp điều hành lực lượng phối hợp.

Thứ hai, lãnh đạo các cơ quan tiến hành tố tụng gồm Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan Công an các cấp: Công trình cung cấp căn cứ thực tiễn để nâng cao chất lượng bản án, bảo đảm tính khả thi khi thi hành và hoàn thiện quy trình bảo vệ hiện trường trong thời hạn 03 ngày làm việc.

Thứ ba, giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Hiến pháp, Luật Hành chính và Quản lý công: Luận văn cung cấp khung lý luận chặt chẽ về tổ chức thực hiện pháp luật cùng hệ thống số liệu thực chứng đầy đủ 100% về bộ máy 93 biên chế tại địa phương.

Thứ tư, đội ngũ Luật sư và chuyên viên pháp chế tại các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng: Công trình giúp nhận diện các quy định về phong tỏa tài khoản, khấu trừ thu nhập và kê biên tài sản, hỗ trợ đắc lực cho việc thu hồi hàng trăm tỷ đồng nợ xấu an toàn và đúng luật.

Câu hỏi thường gặp

Thời hạn tự nguyện thi hành án và thời điểm chấp hành viên phải tiến hành xác minh cưỡng chế được quy định như thế nào? Theo quy định tại Điều 44 Luật Thi hành án dân sự và Điều 9 Nghị định 62/2015/NĐ-CP, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà đương sự không chấp hành, Chấp hành viên phải tiến hành xác minh điều kiện tài sản. Trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay lập tức.

Trong trường hợp nào Chấp hành viên bắt buộc phải lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án dân sự? Căn cứ Điều 72 Luật Thi hành án dân sự, Chấp hành viên bắt buộc phải xây dựng kế hoạch chi tiết gồm 06 nội dung khi cần huy động lực lượng tham gia bảo vệ. Đối với các biện pháp đơn giản như khấu trừ tiền trong tài khoản hoặc trừ vào thu nhập của người phải thi hành án, việc lập kế hoạch không bắt buộc nhằm giảm tải thủ tục.

Trách nhiệm và thời hạn phối hợp bảo vệ cưỡng chế của cơ quan Công an được quy định ra sao? Căn cứ Khoản 4 Điều 7 Luật Thi hành án dân sự, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kế hoạch cưỡng chế của cơ quan thi hành án, cơ quan Công an cùng cấp có trách nhiệm xây dựng kế hoạch bảo vệ, bố trí đủ lực lượng, phương tiện giữ gìn trật tự và kịp thời ngăn chặn các hành vi cản trở.

Đương sự có quyền thỏa thuận hoặc tự nguyện nộp tiền sau khi có quyết định cưỡng chế không? Quyền tự định đoạt của đương sự được pháp luật tôn trọng xuyên suốt quá trình thi hành án. Ngay cả sau khi có quyết định cưỡng chế hoặc trước thời điểm mở cuộc bán đấu giá tài sản kê biên, người phải thi hành án vẫn có quyền thỏa thuận với bên được thi hành án hoặc nộp đủ số tiền thi hành và chi phí để nhận lại tài sản.

Những khó khăn lớn nhất khi tổ chức cưỡng chế thi hành án tại tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2016-2020 là gì? Khó khăn lớn nhất bắt nguồn từ sự chống đối tinh vi của đương sự trong các vụ án tín dụng nợ xấu hàng trăm tỷ đồng, sự thiếu đồng bộ về phương tiện bảo quản tài sản tại thực địa và áp lực khối lượng án tồn đọng đè nặng lên 37 Chấp hành viên của 8 đơn vị hành chính cấp huyện.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định tổ chức thực hiện cưỡng chế thi hành án dân sự là công cụ pháp lý tối thượng nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của bản án và giữ vững kỷ cương pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
  • Đánh giá toàn diện thực tiễn giai đoạn 2016 - 2020 tại tỉnh Ninh Bình với bộ máy 93 biên chế và 37 Chấp hành viên đã tổ chức thành công nhiều đại án phức tạp, thu hồi hàng trăm tỷ đồng nợ xấu cho nền kinh tế.
  • Đóng góp khoa học then chốt của công trình là hệ thống hóa lý luận về trạng thái động của pháp luật thi hành án, làm rõ các bất cập trong tác nghiệp thực địa và đề xuất 4 nhóm giải pháp có tính ứng dụng cao.
  • Lộ trình tiếp theo trong giai đoạn 2021 - 2025 đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan tư pháp để chuẩn hóa 100% quy trình tác nghiệp và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin liên ngành.
  • Các cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở đào tạo luật và cán bộ thực thi pháp luật cần khai thác triệt để những kết quả nghiên cứu này nhằm tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thi hành án dân sự trên phạm vi cả nước.